Với mong muốn "xới" lên những vấn đề đang có tính thời sự trong việc bảo tồn và phát huy giá trị phố cổ, xin bạn đọc xem như loạt bài của Hànộimới là lời mời gọi cùng tiếp tục đóng góp cho việc ứng xử với "khu băm sáu phố phường" của chúng ta.
Trông tới, trông lui
Theo đánh giá của các chuyên gia, phố cổ Hà Nội hay khu đô thị cổ Hội An của Việt Nam cùng một số khu phố cổ (KPC) khác trên thế giới như Bắc Kinh (Trung Quốc), Damascus (Syria) tuy có điểm khác biệt, nhưng lại có chung tính chất của di sản văn hóa đô thị. Mỗi ngôi nhà dân sinh đồng thời là địa chỉ tham quan hay điểm kinh doanh du lịch.
 Những ngôi nhà cổ trên phố Hàng Đào. Ảnh: Viết Thành
Trước khi trông xa, hãy tìm kiếm bài học gần từ Hội An. Đó là sự cộng hưởng giữa dân cư và di sản, như chia sẻ của ông Đinh Hài - Giám đốc Sở VH,TT&DL Quảng Nam: Huy động được cộng đồng tham gia bảo tồn và phát huy giá trị của di tích; đồng thời gắn di tích với phát triển du lịch. Khi đã thấy được lợi ích thiết thực, chính người dân sẽ chủ động cùng với chính quyền gìn giữ, bảo tồn di sản.
Tương tự, khu phố cổ Hutong nằm ở trung tâm Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) cũng mang những cái tên gợi đầy ký ức như Chợ than, Chợ gạo, Chợ dê, Chợ cá tươi, gần như phố Hàng Than, Hàng Gà, Hàng Giấy, Hàng Điếu ở ta vậy. Hutong đã được đầu tư khoảng hơn 1 tỷ nhân dân tệ để tu sửa 40 ngõ cổ, cải tạo 1.400 tứ hợp viện, các điểm du lịch quan trọng trong khu vực bảo tồn cổ vật, cải thiện điều kiện cư trú của người dân…
Còn ở thành phố có từ 3.000 năm trước Công nguyên mang tên Damascus của đất nước Syria, từng được nhiều học giả cho là cổ nhất thế giới thì hiện nay nghề thủ công truyền thống như khảm xà cừ, gấm tơ tằm, đồ đồng, đồ thủy tinh và đồ gia dụng, hàng dệt… vẫn nhộn nhịp.
Di sản là tài sản
Xin trở lại với chia sẻ của nhà văn Siêu Hải, tác giả nhiều tiểu thuyết về Thăng Long - Hà Nội: Phố Hàng Than là con phố cổ nhất, xuất hiện từ thời Lý Bí, tức là thuở lập nước Vạn Xuân. Với lịch sử ấy, phố cổ “chở” theo biết bao giá trị, nếu biết phát huy, khai thác, nó sẽ thành khối tài sản vô cùng to lớn.
Thực tế, đã thấy rõ một số kết quả trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị phố cổ. Nhà số 87 phố Mã Mây xây dựng vào đầu thế kỷ XIX theo mô típ kiến trúc truyền thống của Việt Nam; đến năm 1999 thì được cải tạo thí điểm theo một dự án có sự hợp tác giữa hai thành phố Hà Nội và Toulouse (Pháp). Cái tên “87 Mã Mây” từ đó đã trở thành “ngôi nhà di sản” mỗi năm đón trên 2 vạn lượt khách tới thăm. Đây cũng là nơi làm sống dậy nhiều sinh hoạt văn hóa đậm chất Hà thành như triển lãm Nét Xuân (2004), Tết Trung thu truyền thống (năm 2009)…
 Nhà cổ 87 Mã Mây đã trở thành nơi sinh hoạt đậm chất Hà thành. Ảnh: Viết Thành
Nối tiếp thành công của “87 Mã Mây”, giấc mơ giữ được cả kiến trúc và tinh thần của nhà cổ trong di sản dần hiện thực hóa. năm 2000, nhà 38 Hàng Đào - nguyên là đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa) tiếp tục được bảo tồn, là nơi giới thiệu kỹ thuật xây dựng truyền thống kết hợp kỹ thuật tôn tạo hiện đại.
Cùng với những ngôi nhà, một số tuyến phố Hà Nội cũng thể hiện rõ khả năng thích ứng với đời sống: Tuyến đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân và chợ đêm Đồng Xuân với hơn 3.000 hộ kinh doanh đã góp phần giới thiệu văn hóa, kiến trúc không gian phố cổ tới du khách trong nước, quốc tế. Tuy nhiên, nhận xét của chính giới kinh doanh du lịch dưới đây lại khiến ta suy nghĩ về việc phố cổ đã thực sự phát huy hết khả năng làm thơm thảo cho cư dân và thành phố chưa: “Gần 100% khách du lịch trong nước, quốc tế đến Hà Nội theo các “tua” của trung tâm lữ hành Hanoi Red Tours có nhu cầu tham quan KPC, song chủ yếu đi… cho biết, chứ không có nhu cầu tìm hiểu giá trị lịch sử, văn hóa và không mua sắm. Bởi cơ bản hàng hóa sơ sài, manh mún, chưa đặc trưng, nhất là quy trình làm ra nó vẫn trong “bí mật”.
Tâm huyết và sự quyết tâm
Có thể khẳng định quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị KPC Hà Nội đã rõ từ Thông báo số 72, ngày 26-5-1994 của BCH TƯ Đảng về một số vấn đề quy hoạch, xây dựng Thủ đô Hà Nội. Đó là: “Việc bảo tồn KPC là cần thiết và là một ý tốt, nhưng nên xem xét, xác định phạm vi khu vực bảo tồn hợp lý. Giữ mặt ngoài các khu phố cùng những cảnh quan, dáng vẻ đặc trưng kiến trúc của KPC. Mặt khác, phải cải tạo và nâng cao điều kiện sống và làm việc của khu phố này theo mức sống văn minh của thời đại, thanh toán các khu ổ chuột, mất vệ sinh, ô nhiễm và không bảo đảm an toàn”.
Trên tinh thần đó, ngay từ ngày 1-2-1998, UBND thành phố Hà Nội đã có công văn số 3026/UB-NNDC chấp thuận về mặt chủ trương xin sử dụng đất để giãn dân KPC. Từ đó đến nay, nhiều cuộc hội thảo bàn về việc triển khai dự án giãn dân đã được thực hiện. Trong buổi làm việc với quận Hoàn Kiếm cuối tháng 2 năm 2009, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã nhấn mạnh: “Công tác giãn dân phố cổ cần coi trọng việc bàn bạc, lấy ý kiến rộng rãi của người dân, tạo đồng thuận trong quá trình thực hiện, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ, chống tiêu cực trong quá trình thực hiện”.
Tinh thần và những chủ trương nói trên là lối đi rộng để những người có trách nhiệm thực thi trực tiếp việc bảo tồn di sản phố cổ Hà Nội. Chưa kể người dân Việt Nam nói chung, người Hà Nội - trong đó có nhiều trí thức, chuyên gia, văn nghệ sĩ luôn luôn sẵn bầu tâm huyết với phổ cổ. Đã có việc tưởng quá “khó” là di dời các hộ dân ra khỏi đình, chùa, miếu trong KPC mà quyết tâm là thành công, tiêu biểu như đình Kim Ngân (số 42 phố Hàng Bạc), 25 hộ dân đã không còn cư ngụ ở đó và di tích đang được trùng tu, tôn tạo…
Vì vậy, điều cần nhất bây giờ là phải quyết tâm làm.
Theo Bao HaNoiMoi |
|
"Đưa một cuộc trưng bày rất nghiệp dư vào một tòa nhà bảo tàng mang tính hiện đại nhất, thì đó là một sự coi thường chất lượng của bảo tàng ở thế kỷ 21" - PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên GĐ Bảo tàng dân tộc học VN phát biểu.
Mang danh văn hóa nhưng lại "phản" văn hóa
Bệnh hình thức có rất nhiều biểu hiện, nhưng tôi chỉ nói câu chuyện về di sản ở Hà Nội thôi, những chuyện nhãn tiền.
Dịp Đại lễ, Hà Nội cố gắng khánh thành Bảo tàng Hà Nội - điều mong đợi hàng mấy chục năm nay của người dân Thủ đô. Buồn thay, đó chỉ là sự khánh thành "giả tạo", không thực chất. Nó đơn giản chỉ là xây xong, lễ khánh thành cái tòa nhà để làm bảo tàng Hà Nội chứ chưa phải là khánh thành Bảo tàng Hà Nội.
Người dân đã đổ đến xem đông như trẩy hội. Chưa bao giờ có bảo tàng nào trong dịp một lễ khánh thành mà người dân lại nô nức đến vậy. Nhưng điều đọng lại trong lòng họ khi đi ra khỏi lễ khánh thành lại là những ấn tượng kém, xấu về một công trình vừa xây dựng.
Nước vẫn đang chảy từ trên mái xuống tòng tòng, chắc không phải là mái dột nhưng cũng không biết từ đâu.
Về nội dung, những đồ vật trưng bày ở bảo tàng cũng cho thấy nỗ lực khỏa lấp một không gian mà đã không được chuẩn bị kịp.
Chúng ta nên hiểu: Cả Hà Nội này phải là một không gian trưng bày. Hoặc cả khu phố cổ - trung tâm Hà Nội phải là một không gian trưng bày. Cái gì đặt ở đâu cần phải có sơ đồ, thiết kế một cách hợp lý. Chắc người ta cũng có thiết kế nhưng lại không tính đến hiệu quả của nó mà chỉ để tâm đến cờ đèn kèn trống. |
Lẽ ra, trước tình hình đó Ban tổ chức phải nói cho người dân hiểu rằng: Vì không kịp chuẩn bị nội dung của bảo tàng nên tạm lấp vào đó những cổ vật Thăng Long của những nhà sưu tầm tư nhân.
Rõ ràng đó không phải là một cuộc trưng bày bảo tàng mang tính chuyên nghiệp, dù là triển lãm nhất thời. Đưa một cuộc trưng bày quá nghiệp dư vào một tòa nhà bảo tàng mang tính hiện đại nhất, thì đó là một sự quá coi thường chất lượng của một bảo tàng ở thế kỷ 21.
Nhiều pa-nô, câu chữ không đạt yêu cầu, thậm chí còn đá nhau. Những cái đó mang danh văn hóa nhưng lại là phản văn hóa, vì nó không những lộn xộn mà còn tạo ra những nhận thức sai lầm về sự tôn trọng văn hóa. Đó là điều tối kỵ đối với những người làm công tác gìn giữ và phát huy các di sản.
Đó không chỉ là bài học lớn cho Hà Nội, cũng là bài học lớn cho cả nước về câu chuyện chạy theo thành tích, khánh thành vỏ công trình cho kịp ngày kỷ niệm lớn.
Nếu chúng ta nói rõ ràng với người dân rằng: Đây là lễ khánh thành một tòa nhà sẽ trở thành một bảo tàng trong tương lai, thì người dân sẽ rất thú vị. Nhưng nói là khánh thành Bảo tàng Hà Nội với những hiện vật trưng bày về Hà Nội như vậy, sẽ mang một tiếng xấu cho Bảo tàng rằng: Hà Nội chỉ đạt đến một trình độ thế thôi, công tác bảo tàng cũng chỉ có vậy mà thôi.
 Bảo tàng Hà Nội
Nếu cứ theo đà này, vẫn giữ kiểu làm cũ, chắc chắn các trưng bày tiếp theo của bảo tàng sẽ vô cùng nguy hiểm, vì tạo cho người ta thoái quen cứ làm tùy tiện như vậy vẫn được chấp nhận. Miễn sao có thể đưa ra công chúng trong những dịp đặc biệt mà không quan tâm đến chất lượng, không cần biết sản phẩm của anh là gì, đưa vào đó những hiện vật nào, giá trị và thông điệp của nó là gì.
Bảo tàng Hà Nội khó xây dựng một thương hiệu có uy tín ngay từ đầu, vì thế.
Hoàng thành Thăng Long cũng được cố gắng đưa vào trưng bày, cả ở khu khai quật khảo cổ lẫn Hoàng thành, mà không tính toán đầy đủ đến chất lượng. Cho nên bên cạnh những cổ vật mới được khai quật lên trong mấy năm vừa rồi - một số trong đó được các nhà bảo tàng học và kiến trúc sư nội thất người Pháp thiết kế trưng bày rất đẹp với tủ kính, giá đỡ hiện vật được thiết kế chuyên dụng, ánh sáng, đồ họa đạt chuẩn quốc tế, thì lại lẫn lộn với những trưng bày đồ cổ khác một cách tùy tiện.
Người xem và người làm công tác di sản cũng hiểu rằng Ban Quản lý di tích này chịu sức ép rất lớn trong dịp Đại lễ. Phải thừa nhận rằng họ cũng đã cố gắng, nhưng ở đây cần có sự lựa chọn khôn ngoan hơn: Ít mà tốt hay nhiều mà chất lượng kém để rồi đưa tới những thất vọng.
"Cái thanh lịch của Hà Nội ở đâu"
Dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, giới di sản và giới văn hóa Hà Nội đã không biết tranh thủ một cơ hội ngàn vàng như thế để làm những cái nhỏ mà rất có ích cho xã hội, có ích cho Hà Nội. Tất cả những cái đó nhỡn tiền, và nằm trong lòng bàn tay chúng ta, vừa không tốn kém mà lại để lại những ấn tượng lâu dài trong lòng người.
Ngôi nhà ở Hàng Ngang nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập, trước Đại lễ khoảng vài tháng tôi đã lên đó xem, nghĩ rằng người ta phải sửa sang và trưng bày cho tốt. Thế nhưng trong suốt 10 ngày Đại lễ, địa chỉ đó vắng như chùa Bà Đanh!
Đại lễ là kỷ niệm của Thủ đô, của đất nước, chứ đâu phải chỉ có những di sản về vua Lý Công Uẩn! Chỉ biết có Lý Công Uẩn là một cái rất là sai. Chúng ta nhân câu chuyện của Lý Công Uẩn để nói chuyện ngày nay mới là điều quan trọng.
Vì chúng ta quá tập trung vào vua Lý Công Uẩn và những gì thuộc về thời nhà Lý. Còn những di tích của Hà Nội 65 năm qua, 100 năm qua cũng rất tuyệt vời thì lại không được để ý đúng mức để mà nối tiếp những câu chuyện đó. Ngôi nhà nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập thì gần như bị bỏ hoang.
Công bằng mà nói cách đây vài tháng người ta cũng có làm lại một cuộc trưng bày, nhưng phải nói đó là cuộc trưng bày thuộc loại dưới mức bình thường: Một cái va-li mà Bác Hồ đi từ Pác Bó về, chả biết va-li thật hay giả, mà lại treo ở trên tường chứ không để vào tủ kính. Chủ đề trưng bày thì dàn trải quá không gian của ngôi nhà này.
Đầu tư cho trưng bày lại ít ỏi. Tầng 2 và tầng 3 của tòa nhà phong phú như vậy mà gần như bị bỏ trống. Thủ pháp trưng bày hạn chế, như cách đây nửa thế kỉ. Người xem khó tìm chút hấp dẫn và xúc động.
Và cũng lại không có một tuyên truyền nào về sự trưng bày ở địa chỉ này, vậy thì ai đi xem?
Ngôi nhà ở 90 phố Thợ Nhuộm nơi đồng chí Trần Phú viết Cương lĩnh cũng như vậy. Và cả ngôi nhà ở số 5D Hàm Long nơi chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên được thành lập cũng đóng im ỉm. Hơn nữa 2 di tích nổi tiếng này đều bị chiếm dụng, (bởi chính các cơ quan văn hóa).
Nhà 5D Hàm Long thì Bảo tàng Hà Nội lấy làm một trụ sở của mình suốt bao nhiêu năm nay. Nhà nước lấy tòa nhà đó làm di tích chứ có phải để làm cơ quan đâu. Ngôi nhà 90 Thợ Nhuộm thì toàn bộ tầng 2 và tầng 3 do Ban Quản lý di tích ở Hà Nội chiếm dụng.
Lẽ ra cả 3 địa chỉ này đều trở thành những bảo tàng tuyệt vời của Hà Nội nếu chúng ta biết làm.
Ngôi nhà nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn là một ngôi nhà của gia đình ông Trịnh Văn Bô- đại tư sản Việt Nam. Chúng ta có thể phục dựng toàn bộ cuộc sống và sự buôn bán của nhà đại tư sản đó vào thời điểm năm 1945 như thế nào. Người ta có thể đến xem để hiểu Bác viết Tuyên ngôn Độc lập như thế nào trong một khung cảnh, không gian của một gia đình tư sản. Hiểu được nếp sống của người Việt Nam, người Hà Nội giữa thế kỷ 20 ở phố cổ Hà Nội ra sao.
Cho nên trưng bày ở đây không phải chỉ có Bác mà còn phải có cả những con người và cuộc sống của gia chủ trong căn nhà đó nữa. Làm được điều này thì tòa nhà đó có khác gì nhà của Victor Hugo hay Vonte ... mà bao nhiêu du khách đến xem.
 Ngôi nhà số 5D Hàm Long
Thế nhưng, ở ngôi nhà đó người ta lại kể toàn bộ sự nghiệp của Bác, đi Pác Bó như thế nào rồi Cách mạng ra sao, rồi kháng chiến chống Mỹ chống Pháp... Ai cần xem những câu chuyện đó ở đây?
Người ta cần câu chuyện về cuộc sống về một gia đình tư sản ở Việt Nam trước và trong năm 1945, và câu chuyện về Bác Hồ trong những ngày Cách mạng Tháng Tám. Người xem cần biết tại sao nhà tư sản ấy lại đùm bọc và cưu mang cách mạng. Thế là đủ. Họ sẽ xúc động.
Đâu phải người ta đến đây để "đọc sách" về toàn bộ lịch sử Cách mạng Việt Nam từ những năm 1930 đến nay. Chúng ta đâu chỉ tự hào về Hồ Chủ tịch ngồi viết Tuyên ngôn Độc lập mà còn tự hào về văn hóa của người Hà Nội. Cũng như những ngôi nhà lịch sử ở châu Âu, người ta cũng phục dựng và tự hào về những câu chuyện ở đó.
Còn ngôi nhà nơi Trần Phú viết Cương lĩnh ở dưới hầm, trong căn buồng của một ông làm bếp, người ta chỉ chú ý trưng bày riêng ở căn hầm đó thôi. Mà thực tế, bây giờ, ngay cả cái hầm đó cũng trở thành nơi để xe máy hàng ngày của cán bộ Ban Quản lý di tích. Đó là một sự xúc phạm lịch sử.
Tôi cũng cố gắng ra Bờ Hồ để thưởng thức, xem không khí người dân Hà Nội là như thế nào trong những ngày Đại lễ, nhưng không thể chịu nổi phải đi về ngay. Bởi vì đinh tai nhức óc. Đã là âm nhạc, tiếng trống tiếng đàn thì phải thể hiện cái hay cái đẹp của nó, chứ không phải cứ gõ càng to càng tốt. Các góc của Bờ Hồ cứ đá nhau tất cả mọi thứ, còn đâu mà thưởng thức được nữa. Đâu phải cứ càng nhiều âm thanh trong những chỗ đó là vui, là tăng cường cái gọi là Hội đâu. Trong Hội vẫn cần cái sự tĩnh. Có thể ở một không gian nào đó vui nhộn, nhưng ở không gian khác phải Tĩnh để cho người ta cảm nhận sâu sắc, ví dụ như ở trước tượng vua Lý Thái Tổ, trước cổng đền Ngọc Sơn. Người ta cần được đi bộ quanh Hồ Gươm, thưởng thức vẻ đẹp lung linh của Tháp Rùa, cảm nhận vẻ đẹp của đèn chiếu xuống mặt hồ, người ta cần đến trước tượng đài Lý Thái Tổ để cảm nhận và suy nghĩ về Lý Thái Tổ ra sao. |
Họ chỉ khai thác Trần Phú viết luận cương ở dưới hầm và tưởng rằng đã là sự tôn vinh. Đó là một sai lầm nghiêm trọng. Đến đó chúng ta cần hiểu bối cảnh: Căn nhà đó là nhà của ai, gia chủ và những người ở đó sống như thế nào. Đó là nhà của một ông tư sản người Pháp. Ở đó chúng ta có thể và trước hết nên giới thiệu về cuộc sống của những người Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 ra sao.
Chắc hồ sơ kiến trúc và hồ sơ của gia chủ ngôi nhà còn được lưu trữ hoặc ở Việt Nam hoặc ở Pháp. Chúng ta phải bỏ công tìm kiếm. Chúng ta giới thiệu được cuộc sống của Trần Phú những ngày viết Cương lĩnh như thế nào, phục dựng toàn bộ khu nhà đó, kể cả khu nhà ngang, nhưng khu nhà ngang thì nay đã bị phá đi rồi. Thực tế mà nói đó là sự xâm phạm di tích. Tức là những người làm quản lý di tích mà lại xâm phạm, phá hoại di tích nhiều nhất
Hai ngôi nhà, 1 ngôi nhà có thể tái hiện cuộc sống của gia đình tư sản Việt Nam, 1 ngôi nhà của tư sản Pháp. Đó không phải chúng ta tôn vinh nhà tư sản Pháp, mà là chúng ta đặt ông Trần Phú trong bối cảnh của gia đình tư sản Pháp đó, và đặt văn hóa của Pháp trong văn hóa Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.
Ngôi nhà ở 5D Hàm Long là nhà của người dân bình thường, cuộc sống của người dân bình thường những năm 30. Vậy chỉ qua 3 ngôi nhà đó thôi chúng ta có cả một bối cảnh của Hà Nội vào thế kỷ 20. Đó chính là lịch sử thực sự và sống động của Việt Nam.
Cách nhìn đó sẽ mở ra cho chúng ta rất nhiều. Đó sẽ là một tour du lịch hấp dẫn. Và chắc rằng, bao nhiêu người Pháp đến Hà Nội du lịch, từng ấy con người sẽ đến thăm các ngôi nhà đó. Như vậy sẽ mang lợi cho du lịch của Hà Nội đến mức độ nào.
Nay những người quản lý du lịch thường phàn nàn ở Hà Nội chỉ thăm thú 1 ngày là không biết còn nơi nào để thăm nữa. Trong khi những địa chỉ như thế là những ngôi nhà hốt ra tiền. Đó là những tòa nhà văn hóa của Hà Nội.
Trong dịp 1000 năm, tập trung cả mấy ngàn tỉ đồng xây Bảo tàng Hà Nội mà bỏ qua những ngôi nhà này, ngành văn hóa đã bỏ lỡ một cơ hội. Đó là điều rất đáng tiếc.
Cái thanh lịch của người Hà Nội nằm ở đấy, có chiều sâu và nguồn gốc của nó. Chứ đâu phải cứ suốt ngày cứ rả rích "cái thanh lịch của Hà Nội ở đâu" rồi đi tìm cái thanh lịch ở những điều chạy theo thành tích, khẩu hiệu.
Theo TuanVietNam |
|
| Trước ý kiến cho rằng tường Thành cổ Sơn Tây đang bị phá đi xây mới, hôm qua (25-11), UBND thị xã Sơn Tây (Hà Nội) đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến cơ quan quản lý, giới khoa học về dự án chỉnh trang tường thành cũ và phục hồi cổng đông của Thành cổ Sơn Tây. Sau khi kiểm tra thực tế, 100% ý kiến tại hội nghị nhất trí phương án mà Ban Đầu tư xây dựng thị xã Sơn Tây (BĐT) đang thực hiện.
Không thể không cải tạo
 Một góc Thành cổ Sơn Tây.
Ông Nguyễn Ngọc Chất, chuyên gia khảo cổ của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, người trực tiếp nghiên cứu, thám sát tường và cổng Thành cổ Sơn Tây cho biết: Thành được xây dựng năm 1822 dưới thời Vua Minh Mạng, theo kiến trúc Vauban (một loại thành quân sự của Pháp). Tường thành cao 4,5m, dày từ 1,25-1,35m, xây vát lên bằng đá ong, phía trong đắp đất theo kiểu thoải dốc chân đê để giữ tường thành. Đây là thành quân sự điển hình, phên dậu cho phía tây Hà Nội xưa. Hiện nay, hầu hết các đoạn tường thành đã bị sạt lở nghiêm trọng, chỉ còn chân móng.
Trong báo cáo kết quả thám sát di tích vào tháng 9-2010, ông Chất đề nghị phát quang, làm lộ rõ hiện trạng của những đoạn tường thành còn lại. Với những cây cổ thụ trên mặt tường thành, phải có phương án bảo tồn vì bản thân chúng là minh chứng lịch sử; các bụi cây cần triệt hạ để không gây hại đến tường thành. Còn đối với tường thành, việc trước mắt nên làm là bảo tồn nguyên trạng phần móng còn lại, xây xếp thêm đá ong lên những đoạn bị sạt nhiều để có thể tái hiện toàn bộ hệ thống tường thành.
Cổng đông của thành đã bị triệt giải nhưng kết quả khai quật khảo cổ cho thấy cổng có quy mô, kết cấu tương đồng với cổng phía tây, nam, bắc hiện vẫn còn. Đây là căn cứ khoa học để phục dựng cổng đông.
Như vậy, có thể nói việc chỉnh trang tường thành cũ và phục hồi cổng đông là cần thiết ở thời điểm hiện tại.
Phương án đang triển khai là khoa học
Tại hội nghị, ông Nguyễn Quang Sơn, Chủ tịch UBND thị xã Sơn Tây khẳng định: Chính quyền, nhân dân thị xã nhận thức được giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc quý giá của Thành cổ nên đã xin phép và được UBND thành phố Hà Nội cho phép lập dự án cải tạo, chỉnh trang tường thành cũ và phục hồi cổng đông. Trên tinh thần đó, BĐT đã phối hợp với các cơ quan chức năng lập báo cáo kỹ thuật, báo cáo kết quả thám sát và có Tờ trình số 370/TTr - BĐTXD ngày 6-11-2009 gửi Sở VH,TT&DL Hà Nội và đề nghị Sở có công văn gửi Bộ VH,TT&DL xem xét dự án này.
Ông Trần Đức Minh, Trưởng ban BĐT cho biết thêm, việc phát quang thí điểm 117,5m tường thành cho thấy đa số đoạn tường chỉ còn vài viên gạch, nên không thể thực hiện phương án "trồng cây thành hàng rào chạy dọc theo vị trí tường thành bị mất để khách tham quan có thể hình dung được tường thành cũ"… như hướng dẫn của Bộ VH,TT&DL tại văn bản số 1699/BVHTTDL-DSVH ngày 12-5-2010. Theo ông Minh, làm như vậy sẽ không thể đắp đất phía sau tường thành; hơn nữa, nước mưa đọng lại ở móng tường thành lâu ngày sẽ phá hủy tường thành gốc. Việc tái định vị các viên đá ong cũ cũng không thể thực hiện được vì không còn đá ong gốc. Bởi vậy, Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Sơn Tây đã có văn bản số 952 ngày 7-10-2010 đề nghị Bộ VH,TT&DL, Cục Di sản văn hóa cho phép tu bổ 117,5m tường thành đã phát lộ. Phương án đặt ra là giữ nguyên tường thành cũ, xếp đá ong mới thụt vào 3-5cm so với tường thành cũ để có thể phân biệt được đâu là tường thành cũ, đâu là phần mới. Phía trong tường đắp đất theo kiểu thoải chân đê, trồng cỏ và làm cống thoát nước phía dưới. Toàn bộ cây cổ thụ, cây quý trên mặt tường thành được giữ nguyên, chỉ chặt bỏ cây dại.
117,5m tường được chỉnh trang theo cách này nhưng việc làm đó đã bị dư luận lên án là "phá hoại di tích" và vào ngày 19-11, Cục Di sản văn hóa đã yêu cầu tạm dừng việc chỉnh trang tường thành.
Tiếp tục thực hiện việc tu bổ
Tuy nhiên, sau khi đi kiểm tra thực địa, GS Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội KHXH Việt Nam, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội đánh giá phương án mà BĐT đang triển khai là bài bản, khoa học. Song, ông cũng lưu ý đơn vị thi công nên chú ý đến các chi tiết nhỏ hơn, như chọn đá ong ở vùng nào là phù hợp; nên trồng cây gì, hoa gì lên tường đất phía trong…
Ông Trần Đình Thành, Phó Trưởng phòng Quản lý di tích (Cục Di sản văn hóa) cho biết: Cục nhận được hồ sơ dự án này trước khi các đoạn tường thành phát lộ nên chưa có đủ căn cứ kiểm định. Ông cũng ghi nhận việc cải tạo tường thành mà BĐT đang làm không ảnh hưởng đến yếu tố gốc của di tích. Về yêu cầu tạm dừng thi công đối với dự án này vào ngày 19-11 vừa qua, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa khẳng định: Cục chỉ yêu cầu tạm dừng xếp đá ong lên tường thành, còn việc làm phát lộ tường thành vẫn tiếp tục được thực hiện. UBND thị xã Sơn Tây có trách nhiệm phối hợp với các ngành chức năng lập báo cáo chi tiết, tiếp tục lấy ý kiến các nhà khoa học chuyên ngành rồi báo cáo Cục Di sản văn hóa trong thời gian sớm nhất. Căn cứ tình hình, Cục sẽ đưa ra những kết luận cuối cùng.
Minh Ngọc Hanoimoi |
|
Trong suốt lịch sử phát triển của thành phố Hà Nội, nguy cơ "nông thôn hoá thành thị" luôn rình rập và nó làm giảm sút cái tính cách ưu việt của văn hoá đô thị. Cho đến nay, nguy cơ ấy vẫn thường trực và có phần tăng sau lần mở rộng quy mô mới đây.
LTS: Gặp gỡ và Đối thoại thứ Năm tuần này là cuộc trò chuyện giữa nhà báo Thu Hà và nhà sử học Dương Trung Quốc xung quanh câu chuyện văn minh phố thị. Ông Quốc quả quyết: Nền tảng của văn minh đô thị nói chung cũng như của Hà Nội một thời là dựa trên nguyên tắc chính quyền đô thị, có nề nếp, ngăn nắp, trật tự đâu ra đó. Mời độc giả theo dõi cuộc trò chuyện và cùng tranh luận thêm.
Người đô thị không bao giờ đái bậy!
Thưa sử gia Dương Trung Quốc, với một sự am hiểu thấu đáo, cặn kẽ ông có thể nói gì về chất Hà Nội cách đây lâu lắm rồi?
Ông Dương Trung Quốc: Hà Nội trước là kinh đô nay là thủ đô, là nơi tập trung đầu não chính trị, văn hóa, giáo dục, đương nhiên phải tập hợp được những nhân tài hàng đầu của đất nước trong mọi lĩnh vực. Tự nhiên đã là nơi tụ hội của các tinh hoa, và từ đó lan tỏa đi các vùng miền.
Cần nói thêm rằng không phải đến bây giờ mới có chính sách "luân chuyển cán bộ", ngay từ xưa, cho dù việc đi lại rất khó khăn nhưng quan chức được diều động thường xuyên làm việc ở nhiều điạ phương khác nhau. Luật "hồi tị" còn cấm việc quan chức trị nhậm tại nơi mình sinh sống... Do vậy Thăng Long hay Hà Nội nó là một giá trị chung chứ không nên hiểu là chỉ của riêng những cư dân có nguồn gốc "bản địa".
Kinh đô xưa, cũng giống Thủ đô nay lại cũng là nơi tập hợp, thu hút được cả trí tuệ của "thiên hạ" qua mối quan hệ ngoại giao (các sứ đoàn) hay cộng đồng người nước ngoài có mặt tại đây (nhà buôn, nhà truyền giáo, nhà ngoai giao...). Văn Miếu chính là cách tiếp nhận những giá trị của văn hoá bên ngoài một khi nó mang lại lợi ích quốc gia. Nội dung cái nguyên lý "Hiền tài là nguyên khí quốc gia..." thể hiện trong văn bia của Thân Nhân Trung khắc trong Văn Miếu xác tín nguyên lý xây dựng quốc gia của người xưa rất coi trọng con người, coi trọng trí tuệ và trọng dụng nhân tài.
 Sử gia Dương Trung Quốc
Khi đặt ra tỉnh Hà Nội với mục đích mở rộng không gian của Thăng Long xưa gấp 3 lần thực chất trong ý đồ của nhà Nguyễn là hạ thấp vai trò Hà Nội xuống, họ muốn hòa tan cái "chất" Thăng Long. Nhưng phải nói có một cái may mắn lịch sử là ngay sau đó người Pháp đã yêu cầu triều đình Việt Nam phải lấy cái lõi của tỉnh Hà Nội ấy chính là không gian kinh thành Thăng Long xưa làm thành phố Hà Nội.
Nói như ông thì "thành phố" phải là một quần cư phi nông nghiệp?
Đúng vậy. Khái niệm "thành phố" hiểu theo nghĩa một đô thị hiện đại, một quần cư phi nông nghiệp... và ở ta "thành phố" chỉ mới có bắt đầu từ hơn một thế kỷ. Chính xác là từ thời điểm Vua Đồng Khánh ra sắc dụ nhường vùng đất của kinh thành xưa lúc này đã trở thành phần không gian của tỉnh Hà Nội lập từ thời Minh Mạng (1831) giao cho người Pháp làm nhượng địa và tiếp đó là một sắc lệnh của Tổng thống Pháp quy định đơn vị hành chính của nhượng địa này là "thành phố". Đó là năm 1888, tức là cách nay đúng 122 năm.
Kể từ đó người Pháp mới bắt đầu vào việc quy hoạch, cải tạo và xây dựng một thành phố với những thiết chế hạ tầng đô thị và thượng tầng quản lý của một thành phố thực thụ. Kể từ đó, Hà Nội mới biết đến mặt đường, cống ngầm, xe cộ, vỉa hè, đèn thắp công cộng, đường phố...và từ đó mới có bưu điện, thư viện, bảo tàng, toà án, toà thị chính... các hội đồng hàng phố, hội đồng thị chính, sở công chính, nhà máy đèn, nhà máy nước và nước đá... Tóm lại là một đô thị hiện đại (theo mô hình phương Tây). Đó cũng là một hệ thống giá trị bắt nguồn từ một nền văn minh phát triển bổ sung cho cái nền tảng văn hoá của Hà Nội thời cận đại
Và điều đó đã tạo nên bản sắc riêng của văn hoá Hà Nội như chúng ta vẫn tự hào mỗi khi có dịp nhắc lại?
Khác với đô thị, giao tiếp của cộng đồng cư dân làng xã dựa trên mối quan hệ đã được cam kết một cách rất tự nhiên thành những tập tục qua những hương ước. Nhưng điều quan trọng nhất tạo nên một phẩm chất đặc biệt của người Hà Nội là yếu tố đô thị. Bản chất cốt lõi của đô thị là yếu tố dân chủ.
Người Pháp có thể áp đặt ở đây một chế độ thuộc địa, một chính sách phục vụ lợi ích thực dân, nhưng căn bản kết cấu của đô thị vẫn là dân chủ. Cho nên ngay từ sớm đô thị Hà Nội lúc đó đã thừa hưởng một chính quyền đô thị theo cách nói hiện nay. Những giá trị phương Tây của đô thị đã được áp đặt và trở thành thói quen thường nhật của người dân Hà Nội thời ấy. Bên cạnh đó thời thế đã đào tạo ra một lớp trí thức Tây học. Mà lớp trí thức Tây học đó đặt rất cao yếu tố quyền công dân và pháp luật. Hay nói đơn giản hơn, là tính chất thị dân của Hà Nội thời đó rất đậm nét.
Văn hóa của Hà Nội hay ở đâu cũng thế, thể hiện qua những cái thường ngày, là những thứ chúng ta va chạm từ khi mở mắt ra buổi sáng cho đến lúc nhắm mắt lại đi ngủ. Những điều nhỏ nhỏ ấy, từ lời ăn tiếng nói, lối ứng xử, đi lại cho đến nhu cầu tiện nghi đô thị... tất cả là những mảnh ghép cho bức tranh văn hóa lớn của đô thị.
Đổi thay của Hà Nội khi trở thành 1 thành phố thuộc địa là tuy còn nhiều dấu ấn của đời sống gắn kết với làng xã nguồn cội, nhưng về căn bản là cư dân Hà Nội đã quen dần việc ứng xử theo pháp luật (dù là pháp luật thực dân).
Cư dân Hà Nội tuy không còn là kinh đô nhưng vẫn giữ được nếp cũ (những giá trị truyền thống) của một vùng đất học, lại được tiếp nhận một nền học mới (Tây học). Những khao khát về nền tự chủ quốc gia và một vị thế "kinh sư muôn đời". Ba nhân tố ấy vận hành đã tạo ra được cái tư chất ưu trội và đặc sắc của Người Hà Nội trước đây.
Trong hồi ức của ông: "phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu" nó ra làm sao?
Khu phố xưa nhà cổ bao gồm cả phố cũ xưa ta xây và phố cũ sau này Pháp xây. Đó là Băm sáu phố phường xưa và những khu phố có biệt thự Tây. Chỉ quan sát trực quan cái di sản này sẽ thấy tính "chuyên nghiệp" trong quản lý đô thị của chế độ cũ. Đến nay hạ tầng vẫn bảo đảm, giá trị công năng vẫn phát huy cho dù nó đã quá tải từ lâu do cách quản lý của ta.
Và còn cái danh xưng Người Hà Nội?
"Người Hà Nội" thực ra chỉ là một cách nói thôi. Chúng ta không nên tâm linh hóa điều đấy. Nhưng mà đứng trên giá trị tinh thần thì có, Người Hà Nội giống như một giá trị truyền thống. Đã từng có, nhưng đã bị chìm khuất vì không cưỡng nổi những thay đổi quá lớn đang tác động dồn dập như hiện nay.
Hà Nội do dân tứ phương lập lên. Người Hà Nội gốc có lẽ chỉ là mấy anh đánh cá ở sông Tô Lịch và mấy làng quê bao quanh kinh thành. Thành phần cư dân luôn bị đảo lộn vừa do đặc điểm xã hội nước ta và những biến cố xã hội. Cho nên tính cách Hà Nội nó không phải là bắt nguồn từ nguồn gốc cư dân mà chủ yếu là nhờ "giá trị không gian" (ta hay dùng ý niệm địa linh sinh nhân kiệt) . Đó là không gian vưa có bề dày là kinh đô của đất nước, lại là nơi có điều kiện thu hút những tinh hoa của cả nứơc và thiên hạ. Nó là không gian để chắt lọc những cái hay, loại trừ những cái xấu, tạo ra những đồng thuận hay cam kết những giá trị tao nên cái đặc thu của Thăng Long-Hà Nội , nhứng điều kiện mà ở những nơi khác không có
Ông có thể giúp độc giả Tuần Việt Nam hình dung thêm về điều đã hình thành nên tư chất Người Hà Nội vang bóng một thời?
Tư chất đẹp ấy thể hiện trên rất nhiều phương diện. Vì Hà Nội có một nền tảng văn hóa như tôi vừa nói nên đã tạo ra được một thế hệ rất sáng tạo, rất điển hình, họ tiếp nhận rất nhiều văn hóa mới truyền thống mà nổi trội nhất là một vùng văn hiến. Họ lại tiếp nhận rất nhanh những giá trị văn hoá, đời sống nghệ thuật hiện đại, đôi khi qua cái "cầu" của mẫu hình là Nhật bản và Trung Hoa. Cái cốt cách "sĩ phu hiện đại" có lẽ gần với biểu trưng Người Hà Nội.
Nhưng có một điểm khiến tôi thắc mắc mãi là phố thị Hà Nội thời đó cũng là nơi dân tứ chiếng tìm đến mưu sinh, lẽ nào không có xung đột văn hóa, không bị hoà tan bởi hết lớp người này, tới lớp người khác luôn tìm cách đổ dồn về đây mưu sinh, lập nghiệp?
Chúng ta dễ thấy nhất là xung đột giữa văn hóa nông thôn và đô thị thời thuộc địa. Và văn hóa đô thị đã thắng thế như mọi người thấy, dần dần đã hình thành một nếp sống đô thị rất rõ ràng, khác biệt hẳn với văn hóa làng xã, nông thôn nơi các vùng lân cận.
 Hồ Gươm - Hà Nội.
Ví dụ như hiện tượng "đái bậy" và "cấm đái bậy" có thể nói thể hiện điển hình trong bước chuyển đổi này. Cái dòng chữ cảnh báo "cấm đái bậy" xuất hiện khá phổ biến Tôi nhớ mãi một bức tranh biếm hoạ đăng trên một tờ báo trào phúng vẽ nhân vật Lý Toét (biểu trưng cho văn hoá làng quê) đang vén quần tè vào tường nhà mà ngay trên đó là dòng chữ "cấm không được đái", khi viên cảnh sát (đại diện cho bộ máy quản lý đô thị) đến bắt phạt thì Lý Toét lý sự bằng cách đọc ngược dòng chữ quốc ngữ để theo cách đọc chữ Hán từ phải sang trái: "Đái được không cấm"...
Trong suốt lịch sử phát triển của thành phố Hà Nội, nguy cơ "nông thôn hoá thành thị" luôn rình rập và nó làm giảm sút cái tính cách ưu việt của văn hoá đô thị. Cho đến nay, cái nguy cơ ấy vẫn thường trực và có phần tăng sau lần mở rộng quy mô mới đây.
Cái xây mới đôi khi lại cũng là sai lầm
Nhưng ông lý giải thế nào về sự khác biệt giữa Sài Gòn và Hà Nội thời bây giờ. Rõ ràng, Sài Gòn, một phố thị trẻ hơn Hà Nội nhiều lần, cũng chịu những cú va đập văn hoá dữ dội bởi sức ép dân nhập cư, nhưng dường như ai đến với Sài Gòn cũng nhanh chóng hòa nhập và trở thành Người Sài Gòn. Còn ngược lại, chất Hà Nội như ông thấy đấy, đã bị rơi rớt, bị hoà lẫn, hoà tan đến mức không còn hình dung nổi?
Vì Sài Gòn là một đô thị theo mô hình hiện đại từ rất sớm, có bộ máy quản lý đô thị rất chuyên nghiệp và ít bị đảo lộn, ít bị nguy cơ nông thôn hoá (ở thượng tầng) nên những phẩm chất đô thị nó bền vững hơn cho dù hơn ba thập kỷ nay nó cùng chung hoàn cảnh của cả nước là chưa có chính quyền đô thị. Lại phải nói thêm chính sức ép của nhu cầu đô thị tác động vào đội ngũ quản lý thành phố Hồ Chí Minh.
Còn Hà Nội, cái đáng nói là trung tâm chính trị, nhưng lại trải qua quá nhiều cuộc thay đổi về giá trị. Những thay đổi đó vừa phá vỡ những giá trị cũ mà lại không xây dựng được giá trị mới nên hệ quá là như chúng ta thấy hôm nay. Hà Nội cũng trải qua nhiều biến động chính trị (cách mạng 1945), chiến tranh (1946-1954 và 1968-1972), di cư năm 1954-1955, các chính sách cải tạo... và mở rộng địa bàn hành chính... khiến cho xu thế "nông thôn hoá thành thị" luôn thường trực tác động.
Như vậy quả là Hà Nội hôm nay đã khác Hà Nội hôm xưa nhiều lắm!
Tôi sống gần như liên tục với Hà Nội hơn sáu chục năm, nghề nghiệp lại giúp tôi có thể nối dài ký ức đối với quá khứ nên nhận thức về sự thay đổi có thể khác một người bình thường. Đương nhiên thấy nhiều cái khác, cái thay đổi tốt làm tốt đẹp đẹp và làm xấu đi Hà Nội. Nhiều cái cổ kính đã tan biến, chỉ còn những cái cũ nát. Còn những cồn trinh mới tuy hiện đại nhưng không tạo ra phong cách đặc trưng nào đáng gây ấn tuợng. Đời sống văn hoá đặc trưng chẳng còn là mấy ngoài những cố gắng tạo dựng lại như phố đi bộ hay chợ đêm là những sinh hoạt không hề có trong quá khứ.
Cái hồn của Hà Nội vốn không chỉ là những hoạt động "mặt tiền" với công việc buôn bán mà với cả một nếp sống cổ điển của các gia đình của những giai tầng khác nhau... Hà Nội vốn là một kẻ chợ nhưng nó là Kẻ Chợ viết bằng chữ hoa không vì quy mô mà còn vì nó là một phần kinh đô của một quốc gia.
Và sau đó, sự có mặt của người Pháp đã mang đến cho Hà Nội những công trình kiến trúc phương Tây, hệ thống cầu đường, cống rãnh tạo lập nên bộ mặt đô thị.
Hà Nội bắt đầu phát triển to đẹp với những công trình có giá trị như Nhà hát Lớn, các rạp chiếu bóng, chợ Đồng Xuân, những ngôi nhà thờ, những đường phố rộng mới mở... Tuy nhiên, có thể thấy thời đó vẫn là một Hà Nội gọn gàng ngăn nắp, trong đó vẫn còn lưu dấu những phong tục tập quán cũ, vẻ cổ kính thâm trầm, hệ thống kiến trúc truyền thống, phố phường vẫn được giữ nguyên. Hơn thế, nếp sống đô thị và một tầng lớp thị dân đã hình thành.
Song đáng tiếc sau đó, để thực hiện những mục tiêu chính trị, cùng với đó là một sự đảo lộn của đời sống đô thị, sự đảo lộn của cư dân đô thị. Những người dân đã tiếp thu và quen với nếp sống đô thị đã ra đi mưu sinh ở nơi khác, thay vào đó là sự tràn ngập của những người dân nông thôn đổ, mang theo văn hóa tùy tiện, lối sống đơn giản của nông thôn vào phố thị. Bên cạnh đó, đặc biệt là cách quản lý hành chính đô thị cũng có nhiều thay đổi, không phù hợp khiến phố thị luôn trong nguy cơ bị nông thôn hóa.
Tuy nhiên, thay đổi lớn lao nhất, chính là con người. Con người với những tập quán, nền nếp, với cảm nhận sống- cái làm nên phần hồn của một Hà Nội xưa cũ, đã rơi rớt và biến đổi sau ngần ấy thời gian.
Theo quan sát của ông phần hồn cốt thanh lịch của một Hà Nội xưa cũ bị phá vỡ, bị phai nhạt là vào những thời điểm nào?
Có lẽ là hai thời điểm. Thứ nhất, những năm cuối của thập niên 50 của thế kỷ trước.
Và, một giai đoạn khác nữa là thời điểm khoảng những năm đầu thập kỷ 90 cũng của thế kỷ trước khi chúng ta chuyển đổi hình thái kinh tế từ bao cấp sang thị trường.
Trong những thời điểm có tính lịch sử đó, chúng ta đã thay máu, gần như thay đổi tất cả cư dân ở nơi đây đi nơi khác, và người mới từ những nơi khác đổ vào. Với việc quản lý hoàn toàn buông lỏng đã phá vỡ kết cấu không gian văn hóa một thời của Hà Nội.
Đến gần đây khi chúng ta có được cái rất cơ bản là phát triển kinh tế thì lại thêm vấn đề khác, một là người ta thực dụng hóa, quyền sở hữu trong tay nên vì tư lợi cá nhân, người ra lại càng phá vỡ, cộng với bộ máy quản lý vẫn buông lỏng nên văn hóa Hà Nội đã phai nhạt nay lại càng nhạt phai đến độ không còn tìm thấy nữa.
 Một góc Hà Nội thời đương đại.
Như vậy, có thể hiểu, văn hoá Hà Nội thay đổi quá nhiều do sự huỷ hoại của con người và do năng lực của những nhà quản lý trong các thời kỳ?
Đúng, nhưng công bằng mà nói đó là hậu quả của cả một quá trình lâu dài, ít nhất từ khi người ta xây dựng Hà Nội là một thành phố. Người Pháp thời thực dân phá, người dân ta phá tiếp, người Pháp có thể sai lầm nhưng họ có quy hoạch nên cái đã phá có thể là sưi lầm nhưng cái xây mới là những di sản có giá trị; còn chúng ta làm chẳng có quy hoạch nào mang tính lâu dài và tuỳ tiện. Cho nên cái xây mới đôi khi lại cũng là sai lầm.
"Bộ máy hành chính hiện nay có phải là bộ máy quản lý của chính quyền đô thị đâu?"
Chúng ta đã tính việc khôi phục văn hóa Hà Thành, khôi phục chất thanh lịch của Người Hà Nội một thời mẫu mực. Nhưng xem ra, nói đã nhiều mà bàn cũng đã lắm nhưng đến giờ ước nguyện này vẫn chưa được như mong muốn?
Hãy thử hình dung, Hà Nội như một ngôi nhà. Nếu phần đông các thành viên trong ngôi nhà đó là một tầng lớp xã hội thì người ta sẽ giao tiếp và có có cách ứng xử khác. Nhưng giờ đây ngôi nhà đó là dăm bảy chủ đồng sở hữu, mỗi chủ là một tầng lớp xã hội khác nhau thì đương nhiên cách ứng xử và giao tiếp sẽ khác, sẽ có những va chạm. Và trong bối cảnh như vậy nền tảng văn hóa dù được xây dựng dày dặn bao nhiêu thì cũng dễ đứng trước nguy cơ bị phá vỡ từ bên trong.
Mỗi thời đều có chuẩn mực riêng thế những rõ ràng hiện nay chúng ta vẫn chưa có những nhân tố giúp phát huy mạnh dạn vai trò đô thị.
Ở Hà Nội, văn hóa đô thị bây giờ là cần nhất. Chúng ta có thể nói đến văn hóa hiện đại hay văn hóa truyền thống. Nhưng cái quan trọng nhất của người đô thị phải là văn hóa đô thị.
Làm thế nào ư? Đầu tiên phải có một cơ chế. Cơ chế đó phải bảo đảm tính dân chủ. Như tôi vừa rồi tôi đã nói, bản chất của đô thị phải được kiến tạo dựa trên nền tảng dân chủ. Bên cạnh đó bộ máy quản lý hành chính cũng phải được xây dựng tương ứng- đó là chính quyền đô thị.
Tôi ở nơi khác đến, anh chị ở nơi khác đến, chúng ta quan hệ với nhau bằng những "khế ước xã hội", ở đây hiểu là luật pháp và cả tập quán tốt. Hiểu nôm na thế này, ở thôn quê, mặc dù tôi nhiểu tuổi hơn chị, nhưng so thứ bậc, tôi chỉ là hàng con cháu vì quan hệ dòng tộc, họ mạc. Nhưng ở đô thị chỉ có một thứ quan hệ duy nhất là luật pháp. Thực ra những yếu tố truyền thống cũng tạo ra những giá trị. Nhưng quan trọng nhất của đô thị phải là trật tự, là nền nếp, quản lý phải dân chủ trên cơ sở tuân thủ pháp luật. Pháp luật chính là nền tảng của dân chủ.
Quy hoạch hạ tầng phải đi đôi với quy hoạch thượng tầng. Trong thượng tầng đó có pháp luật, giáo dục và cuối cùng là con người. Khi con người có văn hóa đô thị, thì chính họ là người giúp sức cho việc thực hiện quy hoạch. Nhưng trước khi con người tự giác, thì phải có hành lang pháp lý.
Dẫn chứng, chúng ta đã quy định cấm hút thuốc ở nơi công cộng, không nói to, nói tục chửi bậy, cấm đái bậy. Quy định rõ ràng như thế mà người ta vẫn vi phạm, ngang nhiên vi phạm, nhiều đến mức có cảm giác thỏa hiệp, chấp nhận. Có ai điều tiết đâu, có ai quan tâm đâu và cũng chẳng thấy xử phạt. Như thế làm sao thanh lịch được.
Tôi không thích và rất phản cảm cái câu "tối nghĩa": "Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An". Có lẽ nên hiểu đây là phản ứng của những người đất Tràng An xưa (Hoa Lư) theo triều đình lên Thăng Long sinh sống tỏ thế công thần để phản ứng lại những giá trị văn hoá mới của một nơi mang tính chất đô thị, kinh kỳ hơn là cố đô.
Ông vừa nói, có giải pháp đúng đắn thì nhiều giá trị vốn có sẽ được tái xác lập (chứ không chỉ là bảo tồn cái còn lại). Vậy ông có thể nói rõ hơn về các giải pháp đó là gì?
Một khi mỗi người không tạo cho mình một nếp sống, một thói quen và một kỷ luật buộc phải có của thị dân bên cạnh ý thức của các nhà quản lý xây dựng hệ thống tiện nghi cần thiết của một phố thị thì một khi cái xấu nhiều hơn, sẽ lấn lướt cái giá trị văn hóa tốt đẹp, cho dù đã có một bề dày lịch sử cả ngàn năm.
Bây giờ chúng ta lại mở rộng Hà Nội một lần nữa, rõ ràng tỷ trọng dân cư cũng như tập quán thôn quê sẽ lớn hơn rất nhiều lần dân cư cũng như tập quán thị dân. Văn hóa xứ Đoài rất đáng kính trọng. Nhưng phải thừa nhận với nhau rằng, văn hóa Xứ Đoài bản chất là văn hóa nông thôn. Cho nên chúng ta đang và sẽ còn phải đối mặt với nguy cơ cái chất đô thị sẽ càng ít đi. Và đó chính là vấn nạn của đời sống ngày hôm nay của chúng ta.
Hạ tầng của chúng ta có thể còn thấp kém, còn nhiều việc phải bàn, phải làm, nhưng những cái đó hoàn toàn có thể cải thiện được bằng tiền bạc, bằng công nghệ và kiến thức. Nhưng tính cách, cốt cách của người Hà Nội chẳng tiền bạc, hay công nghệ nào làm được, tạo ra được phong cách đô thị mà chúng ta đã đánh mất.
Cho đến tận bây giờ bộ máy hành chính cũng có phải là bộ máy quản lý của chính quyền đô thị đâu. Chúng ta vẫn đang quản lý đô thị một cách áp đặt, khiên cưỡng, duy ý chí nên một mặt chưa bảo tồn,duy trì được những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, một mặt vẫn chưa tạo ra được những đột phá mới để xây dựng một văn minh đô thị tiên tiến. Do vậy văn hóa Tràng An, cốt cách thanh lịch của Hà Nội hình như đã là chuyện... của một thời đã xa.
Cám ơn ông về cuộc trò chuyện.
Theo TuanVietNam
|
|
| Chỉ sau hai tuần Đại lộ Thăng Long chính thức thông xe, cả người đi đường vàngười dân sống hai bên Đại lộ mới cảm nhận được những điều "phiền toái" mà con đường mang đến. “Mua thêm” gần… 4 km mỗi ngày
Dường như, chỉ đến khi đường cao tốc Láng - Hoà Lạc chính thức được thông tuyến, đặt tên là Đại lộ Thăng Long, những người dân quê sống hai bên đường có đèn cao áp sáng thâu đêm mới có cảm giác mình "thực sự" trở thành "người thành phố".
Dù trên phương diện quản lý hành chính, họ đã trở thành công dân Thủ đô từ trước đó cả mấy năm rồi.
 Một người đi đường "lạc lối" phải nhờ đến dịch vụ thoát hiểm trên Đại lộ Thăng Long
Thế nhưng, niềm vui “ngắn chẳng tày gang”. Vì ngay sau khi thông xe, người dân sống hai bên đường bắt đầu cảm thấy những "phiền toái" và cuộc sống một phần bị xáo trộn, khi những đường ngang ngõ dọc hai bên đường dần dần bị bịt kín.
Chị Nguyễn Thị Lan, người thôn Quyết Tiến, xã Vân Côn (huyện Hoài Đức, Hà Nội) cho biết: Quyết Tiến là thôn duy nhất của xã Vân Côn bị Đại lộ Thăng Long chia cắt khỏi trung tâm hành chính xã.
Trước kia, khi những lối ngang đi tắt qua đường cao tốc chưa được bịt kín, việc đến UBND xã và đi chợ của người dân hay đến trường đi học của con cái chị còn dễ dàng. Nhưng từ khi Đại lộ thông xe, những lối đi tắt ngang đường bị bịt kín, người thôn Quyết Tiến chịu cảnh “gần nhà xa ngõ”, muốn đi chợ hay con em đi học phải đi vòng thêm gần 2 km mới đến hầm chui dân sinh, rồi quay lại bằng đó quãng đường. Nghĩa là đoạn đường họ phải đi hàng ngày xa thêm gần 4 km nữa.
Những hộ dân thuộc Xóm Mới, thị trấn Quốc Oai, do nằm ở bên này đại lộ, giáp với thị trấn huyện Thạch Thất, ngày ngày cũng phải đi vòng thêm vài cây số để đưa con em sang thị trấn Quốc Oai học, đưa con cái đi tiêm phòng hay đưa người ốm đi trạm y tế.
Tương tự, nhiều hộ dân sống ở làn đường bên kia, nghĩa là nằm ngay cạnh thị trấn, nhưng khi đại lộ hoàn thành, muốn đến thị trấn, nếu không chấp nhận vi phạm giao thông bằng cách đi ngược đường thì họ cũng phải đi vòng đường xa thêm 4,5km nữa.
 Làn đường dành cho xe mô tô nhếch nhác là lý do khiến nhiều người tham gia giao thông không đi đúng phần đường, càng làm cho giao thông trên Đại lộ Thăng Long thêm rối loạn!
Chị Nguyễn Thị Mai, nhà ở ngay sát Đại lộ Thăng Long, thuộc thị trấn Quốc Oai cho biết: Khi đại lộ chưa hoàn thành, chị chỉ mất vài phút để đưa con đến lớp hay đi chợ. Nhưng giờ, nếu không đi ngược chiều đường, chị phải đi vòng thêm 3,4 km nữa mới đến điểm rẽ vào thị trấn vốn chỉ cách nhà chị có mấy chục mét. Đường đi lối lại có nhiều thay đổi nên cuộc sống sinh hoạt người dân gặp nhiều xáo trộn.
Người đi đường “bé cái nhầm”
Không chỉ những người dân địa phương sống hai bên đường mới gặp khó khăn trong đi lại và sinh hoạt, rất nhiều người tham gia giao thông trên tuyến đường này đã phải gặp những chuyện dở khóc dở cười.
Tại điểm đầu của Đại lộ Thăng Long, giáp Trung tâm Hội nghị Quốc gia hay điểm cuối Đại lộ là ngã tư Hoà Lạc, phóng viên quan sát thấy rất nhiều người điều khiển xe gắn máy, vì không muốn đi vào phần đường dành cho xe mô tô và xe thô sơ vốn chật trội, bụi bẩn, thậm chí có cả gia súc đi lại nên đã chọn làn đường dành cho xe ô tô để đi.
 Và Đại lộ Thăng Long giống như... đường làng, khi xe cộ thoải mái đi ngược chiều mà không bị xử lý.
Thế nhưng, vì làn đường dành cho xe ô tô có rất ít lối thoát. Vì vậy, nhiều người trót đi vào phần đường này vẫn phải đi... miên man, lạc lối thêm hàng chục cây số mối có lối thoát. Nhiều người, vì muốn chuyển đường sớm thì phải chấp nhận móc túi, mất từ 10 đến 15 nghìn đồng để nhờ dịch vụ khiêng xe thoát hiểm.
Cũng chính vì có quá nhiều người đi xe gắn máy tham gia giao thông thiếu ý thức đi vào làn đường dành cho xe ô tô nên “dịch vụ thoát hiểm” trên Đại lộ Thăng Long mọc lên như nấm và làm ăn rất phát đạt trong những ngày qua.
Anh Nguyễn Văn Luân, người thôn Quyết Tiến, xã Vân Côn, tự nhận là người đầu tiên bắc cầu gỗ làm dịch vụ thoát hiểm cho xe máy lạc lối trên Đại Lộ Thăng Long tiết lộ: Mỗi ngày, anh vẫn kiếm được bạc triệu nhờ vào dịch vụ thoát hiểm đặc biệt này.
Thế nhưng, chính vì anh làm ăn được nên dọc tuyến Đại lộ, giờ cũng có vài nhóm người bắt trước, dựng cầu gỗ làm dịch vụ thoát hiểm cho xe gắn máy. Và giá cước thoát hiểm thì muôn hình ngàn vẻ, tuỳ đối tượng mà nhà chủ dịch vụ hét nhiều hay ít.
Sau hai tuần thông xe Đại lộ Thăng Long, chúng tôi nhận thấy trên toàn tuyến đường, nhất làt làn đường nhỏ dành cho xe mô tô và xe thô sơ, những chiếc xe tải hạng nặng vẫn nối đuôi nhau chạy ngược chiều, nhưng không hề có ai xử lý.
Trong khi đó, người dân sống hai bên đường, vì sợ phải đi xa và vì theo thói quen nên hầu hết không chịu đi vòng theo hướng đường cầu chui dân sinh. Hầu hết họ vẫn coi Đại lộ hiện đại và dài nhất Việt Nam như con “đường làng”, đi ngược chiều vô tư, khiến những đoạn đại lộ chạy qua khu dân cư, tình trạng giao thông rất hỗn loạn và vô cùng nguy hiểm.
Theo VietNamNet
|
|
| Vui với thủ đô, với người dân Hà Nội nhân dịp thành phố tròn ngàn năm tuổi, nhưng trong dịp đại lễ này, nhiều người đau lòng chứng kiến những hình ảnh không đẹp từ những người dạo chơi trên đất Tràng An, từ chính người dân thủ đô và cả khách thập phương...
Những thảm cỏ, chậu hoa bên hồ Hoàn Kiếm nát bươm vì bị giày xéo dưới những bàn chân "vô tình", những bãi rác ngập ngụa mà các công nhân vệ sinh môi trường còng lưng 24/24 giờ vẫn không thể dọn hết... Khoan hãy nói đến những tình cảm sâu nặng, những ước vọng lớn lao dành cho thủ đô khi tròn ngàn năm tuổi - hãy bắt đầu học cách yêu Hà Nội, hay bất cứ mảnh đất nào trên đất mẹ Việt Nam, bằng những điều đơn giản nhất- có trách nhiệm với môi trường và những người xung quanh...





Việt Hưng Dantri
|
|
|
|