| Câu chuyện của Hà Nội trước đêm đổi mới | ||||
|
|
Chiến tranh là những giai đoạn bất thường của lịch sử. Bố mẹ tôi đã sinh ra đúng vào cái giai đoạn bất thường kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Cái giai đoạn dài hàng chục năm ấy đã tầm thường hoá con người ta rồi trộn vào đấy những lý tưởng cao siêu đến mức phi lý để rồi kết cục còn lại là những mơ ước cơm, áo, gạo, tiền cỏn con mà đến nay nghe lại là phì cười rồi liền sau đó là nước mắt xót thương. Những câu chuyện kể của bố mẹ tôi là những kỷ niệm của cả một thế hệ và là những bài học cho tôi và thế hệ sau này trên bước đường sắp tới của mình với những mong vá lại những lỗ hổng mà cái giai đoạn đen tối này đã tạo ra ở Việt Nam, giai đoan được coi là hậu chiến với cái tên gọi khó quên “thời bao cấp”. Chuyện nghề giáo Bố mẹ tôi sinh ra vào đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, đúng vào giai đoạn đất nước tràn ngập những biến cố lớn của lịch sử. Và vì vậy tuổi thơ của bố mẹ tôi đã phải gắn liền với 2 từ chiến tranh và những cuộc sơ tán rời xa khỏi thủ đô, để rồi đến lúc thanh niên thì đất nước lại bước vào một cuộc chiến mới, cuộc chiến đã chia đôi sông Bến Hải, cuộc chiến đã kéo dài hơn bao giờ hết. Ba mươi năm đất nước chìm trong khói bom, hết trận chiến này lại đến trận chiến khác. Những khó khăn, gian khổ tưởng như sẽ không bao giờ hết chỉ được xoa dịu những câu chuyện lúc cuối ngày bắt đầu bằng : “Khi nào hoà bình …” . Những câu chuyện, những ước mơ nhỏ nhoi, như ánh sáng leo lét cuối đường hầm để người ta bấu víu vào, để lấy thêm nghị lực mà bước ra khỏi cái đêm dài vô tận ấy. Những tưởng khi chiến tranh qua đi mọi người sẽ được sống sung sướng thì lúc anh, chị, em tôi chào đời là lúc bố mẹ tôi cũng như bao nhiêu gia đình khác lại đang phải chiến đấu với một cuộc chiến khác, cuộc chiến với cái nghèo đói. Cuộc chiến cũng không kém phần khốc liệt so với cuộc chiến bằng súng đạn.
Thời bao cấp không phải là lúc để làm giáo viên, đằng này cả hai vợ chồng đều làm giáo viên thì hẳn nhiên cái nghèo đói hẳn nhiên là cứ luẩn quẩn mãi treo ở trên đầu. Lúc ấy, nếu nhà anh mà có người làm trong ngành phân phối hay cung cấp lương thực ở Hà Nội thì đồng nghĩa với no ấm, với nể trọng, với cái sự “cả họ được nhờ”. Còn nghề giáo viên, cái nghề đem tri thức, nghề đem tương lai đến cho các thế hệ kế tiếp thì lại là nghề nghèo nhất. Ngay cả so với một anh lái xe cho thủ trưởng hay một cô bán hàng dịch vụ thì anh chỉ có hơn những căn bệnh mãn tính về đường hô hấp, cặp mắt cận vì phải chấm bài hàng đêm trong ánh đèn dầu leo lét, vài ba cây dừa làm bằng phim vào những ngày 20/11 và cả thu nhập ít ỏi hơn rất nhiều. Có thầy giáo, cô giáo nào lúc đó mà không phải làm thêm để kiếm sống, phổ biến thì trồng rau nuôi lợn tăng gia, rồi dệt len, làm bánh, chụp ảnh … thôi thì đủ nghề vậy mà cái đói vẫn cứ bám theo nhăng nhẳng. Và rất nhiều đồng nghiệp, bạn bè của bố mẹ tôi dần phải bỏ cuộc trong cái cuộc chiến mưu sinh ấy. Và thế là xuất hiện những cô hàng xén-giáo viên, anh hàng phở-giáo viên, ông bơm mực bút bi - giáo viên… Những người may mắn có cơ hội dạy nhạc hay dạy kèm cho con của các cán bộ cao cấp để đổi lấy những tem phiếu thịt, tem phiếu gạo thì hoá ra là những người may mắn vì đã bám được lấy nghề. Bố mẹ tôi không phải là những người may mắn như thế, tuy vậy họ vẫn quyết bám trụ lấy nghề dù cho đã có bao bạn bè đồng nghiệp xung quanh, trong đó có cả hai dì ruột của tôi đã phải bỏ nghề mà đi kiếm những công việc tầm thường mà no ấm hơn. Mẹ tôi lúc đó đã phải dành dụm, chắt bóp mua lấy một cái máy đan len của Tiệp về để làm thêm ở nhà. Công việc vất vả kéo dài thường đến tận 3 giờ sáng, nhiều khi là hết cả đêm, thế rồi sáng hôm sau vẫn phải xách cặp đến trường để dạy học. Có lẽ cái tính chịu thương, chịu khó, cái đức hy sinh vì chồng, vì con của người phụ nữ Việt Nam đã giúp mẹ tôi làm được những công việc phi thường ấy. Cũng xin nói thêm, cái máy dệt len của Tiệp này thời đó là một gia tài vì nó có thể là nguồn sống cho biết bao gia đình và sau này mẹ tôi bán nó đi, thêm một ít tiền là mua được căn hộ bé nhỏ ở phố Hàng Lược, nơi tôi đã sinh ra và ở đó đến tận năm 14 tuổi. Còn bố tôi lúc ấy may mắn kiếm được công việc có lẽ còn tương đối dây dưa với cái nghệ thuật của môn văn mà ông vẫn hàng ngày dạy cho học sinh ở trên bục giảng, nghề chụp ảnh. Hàng ngày sau giờ lên lớp, ông lang thang ở các công viên, vườn hoa chụp ảnh cho những người đi chơi muốn lưu giữ lại hình ảnh của mình bằng cái máy ảnh cũ kỹ của Nhật được ông ngoại tôi cho, nhưng nào đâu có kiếm được nhiều vì thời đấy ăn còn chẳng đủ thì người ta lấy tiền đâu ra mà nghĩ đến cái sự ảnh ọt. Thế nhưng những buổi tối rửa ảnh, cái hoá chất rửa ảnh của công nghệ thô sơ thời ấy cũng đã kịp ăn vào tay ông. Những ngón tay xưng đỏ để những lúc cầm bút chấm bài là lại phải xuýt xoa. Và cứ thế, cùng với cái chuồng gà be bé ở ban công, bố mẹ tôi đã xoay sở để nuôi anh chị em tôi ăn học mà không phải bỏ nghề. Cùng với sự chăm lo về vật chất đó, cái đức chịu thương, chịu khó, vun vén cho gia đình của mẹ tôi, những tủ sách đầy truyện và những giảng giải của cha tôi, sự khó nhọc vất cả và cả tính mẫu mực nhà giáo của cả hai người là những gì đã nuôi lớn tâm hồn tôi. Giờ đây cả ba anh chị em tôi chẳng có ai theo nghề giáo cũng như cả 2 bố mẹ tôi đều đã về hưu. Nhưng đối với tôi, nghề giáo vẫn là nghề thiêng liêng và rất đáng được trân trọng. Chuyện bữa ăn Nếu ngày hôm nay, chúng ta luôn đòi hỏi cái sự “ăn ngon, mặc đẹp” mà thực tế người Hà Nội ngày nay ăn ngày càng ngon, mặc càng đẹp: những KFC, McDonald’s đâu còn là lạ, những Versace, CK, Longchamp đâu phải là hiếm thế nhưng hãy thử nhìn lại hơn 20 năm trước đây thôi thì mới thấy ngay cả cái ước mơ “ăn no, mặc ấm” vẫn còn là xa xỉ. Cái sự mặc thì thôi khó khăn cứ đành xuề xoà mà cho qua, nhưng cái ăn là cái phải đối diện hàng ngày thì biết tránh vào đâu được. Hãy thử xem một bữa ăn phổ biến của các gia đình trung bình thời ấy ở Hà Nội nhé, một nồi chuối xanh kho tương với ít tép vụn rồi rưới lên trên ấy một thìa mỡ (chỉ một thìa thôi nhé vì mỡ đắt mà - vậy mà cái nồi này có khi ăn được đến cả tuần lễ), một bát tép hay cá kho mặn mà một miếng có khi và được cả bát cơm, một đĩa rau muống luộc, nước luộc rau vắt chanh và một bát tương nhỏ được đã được pha thêm hẳn 3 thìa muối mà chấm rau vẫn phải chấm đứng cọng cho đỡ tốn. Đấy là nói đến thức ăn, giờ mới nói đến cái nồi cơm-nhân vật chính của bữa ăn. Này đừng có mà mơ mà đắn đo gạo hạt ngắn hay hạt dài nhé, chỉ có gạo hạt đỏ thôi, thế mà đôi khi cũng thiếu, cái chuyện độn khoai, sắn, ngô, mỳ hay cả hạt bo bo là “chuyện cơm bữa”. Đấy cái sự ăn nó thông thường và gần gũi thế đấy, nên cái gì mà quá bình thường và phổ biến thì người ta lại gọi là : “chuyện cơm bữa”.
Cũng may nhà bà ngoại tôi vốn là nhà buôn bán lâu đời ở Hà Nội, dù sau giải phóng gia cảnh có nhiều sút kém, các cửa hàng đã bị Chính phủ tịch thu hết nhưng cái gia thế vẫn còn nên đôi lúc cũng đỡ đần được cho con gái trong cái sự ăn uống hàng ngày, đôi khi là gói chả, khi là quả trứng... nên lũ chúng tôi cũng đỡ phải chịu cảnh kém ăn. Cộng vào đó, sự chịu khó của mẹ tôi nên riêng nhà chúng tôi chưa bao giờ phải chịu cái cảnh ăn cơm độn và sang hơn nữa ấy là sáng Chủ Nhật, mua một bát phở về cho cả nhà ăn cùng với cơm nguội, thế cũng đã là một bữa sáng sang. Có lẽ vì được sinh ra trong một gia đình nề nếp nên mẹ tôi rất coi trọng đến bữa ăn và luôn chăm lo, vun vén để lũ chúng tôi không bao giờ phải thua kém những nhà khác trong chuyện ăn uống. Cái hạnh phúc nhỏ bé quây quần bên mâm cơm ngày ấy giờ đây khó tìm lại được, ngay cả khi cả nhà ngồi trong một nhà hàng sang trọng. Những bát phở trộn cơm nguội ngày xưa giờ tôi không còn phải ăn nữa, nhưng những khi ngồi ăn phở 24, tôi lại ao ước tìm lại được cái cảm giác thèm muốn và háo hức thời đó. Cái cảm giác chắc là sẽ mãi mãi không bao giờ còn tìm lại được nữa. Hà Nội giờ đã và đang làm quen với văn hoá hưởng thụ, nhưng những câu chuyện “trước đêm đổi mới” của nơi này sẽ mãi mãi là bài học về đức chịu thương, chịu khó cho chúng tôi. Chuyện mơ ước Bây giờ người ta hay mơ ước điều gì nhỉ? Thì du lịch vòng quanh thế giới, rồi nhà biệt thự với đầy đủ tiện nghi, rồi xe Lexus... Vậy không có ước mơ nào dính đến ăn mặc à? Ăn với mặc thì làm gì phải mơ ước! Thế mà mới chỉ hơn 20 năm trước đây thôi, ước mơ của người Hà Nội chỉ quanh quẩn trong có bốn từ : “miếng cơm, manh áo”. Chuyện cái mặc, lúc đó, nếu anh mặc một cái áo lông Đức ra đường thì đã là rất oai có khác chi ngày nay diện một bộ veston Armani chính hiệu. Và nếu còn dắt theo một chiếc xe đạp Peugeout nữa thì đích thị anh chính là mẫu hình tượng mơ ước của người Hà Nội thủa ấy. Hãy tưởng tượng, chiếc xe đạp Peugeout ngày ấy, bây giờ tựa như một chiếc xe SH hay thậm chí là còn hơn nữa. Lúc bố mẹ tôi mới lấy nhau cũng được bà ngoại cho một chiếc xe Peugeout như vậy, tuy cũ nhưng đi ra đường thì vẫn vô cùng oai. Sau này nó bị trộm mất, vậy là sáng sáng ba bố con (lúc đó chưa có tôi) dắt nhau ra chợ Đồng Xuân để chờ tàu điện để đi học, đi làm. Cái cảnh chen tàu điện thì khổ hết chỗ nói. Vậy là lúc ấy lại ước mơ có được một chiếc xe đạp.
Ở cái thời mà đến ngay cả cái bút bi cũng phải bơm mực để dùng đi dùng lại, nên mới sinh ra một cái nghề rất phổ biến là “bơm mực bút bi”, thì vẫn còn hằng xa số các ước mơ nhỏ nhoi mà lại quá xa vời khác nữa như cái quạt điện Sanyo, cái radio Philips , cái TV JVC , hay chỉ là cái nồi áp suất Liên Xô… Để đạt được tất cả những ước mơ ấy, chỉ còn cách cố gắng để đạt được một ước mơ khác, ước mơ xuất ngoại. Cán bộ thì cố học tiếng Pháp để cơ hội được đi làm chuyên gia ở Algeria hay Iraq, nếu được vậy thì cả nhà được nhờ. Học sinh, sinh viên thì cố học giỏi để đạt được suất học bổng ở Liên Xô, vậy là có thể vừa học vừa tiết kiệm học bổng để mua hàng hoá bên ấy gửi về nhà báo hiếu bố mẹ. Còn những người không phải 2 đối tượng trên thì vẫn còn những suất lao động xuất khẩu ở Đông Âu để mà mơ ước. Những Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan… lúc đó là những chân trời mới để con người ta hướng đến trong cái đêm đen tăm tối ấy. Những con người đã phải mơ ước được rời bỏ quê hương với mong muốn tìm thấy hy vọng cho mình và gia đình để thoát ra khỏi cái cảnh nghèo. Rồi đến khi Liên Xô tan rã, hầu hết trong số họ đều đã phải trốn ở lại đây để buôn bán. Kiếm ăn trong cái hoàn cảnh tranh tối, tranh sáng ấy ở xứ Đông Âu quả thật là không tệ nhưng cũng lại ẩn chứa muôn vàn bất trắc. Những lúc cuối ngày mệt mỏi thì chỉ còn có ước mơ được trở về nhà, nơi luôn luôn yên bình, nơi vẫn còn ấm áp tận sâu trong trái tim họ. Nhưng họ không thể, họ vẫn phải cố bám trụ lại nơi xứ người này vì biết trở về nhà sẽ là đói, không chỉ có mình đói mà cả gia đình nữa. Tất cả những vất vả, những giấc mơ đều đã bị đánh đổi cho cái mơ ước thoát ra khỏi cái nghèo. Đó là câu chuyện những mơ ước của “Hà Nội trước đêm đổi mới 1986”, những câu chuyện không hề xa chúng ta mà sao nghe quá xa xôi. Những ước mơ nhỏ bé đến tức cười mà nghe xong lại thấy lòng xót xa. Câu chuyện của bố mẹ tôi, câu chuyện của cả Hà Nội vào cái thời tăm tối ấy, những câu chuyện giờ đây gợi lên nhiều kỷ niệm cho những ai đã sống ở vào cái thời kỳ đó. Để lúc này đây, tay cầm điện thoại di động, mắt xem TV màn hình phẳng, tai nghe dàn nhạc 7.1, trên người mặc những bộ quần áo lộng lẫy … chúng ta, những người đã may mắn không phải trải qua cái thời kỳ đó, suy nghĩ gì về ngày xưa ? Vương Hiền
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|







