Thứ sáu, 18 Tháng 5 2012

Những bức thư còn lại với thời gian
Thứ năm, 21 Tháng 1 2010 07:31    PDF. In Email
(36pho.vn) - Đã có những mối tình thật đẹp trong thời chiến được viết lại thành sách, hay dựng thành phim. Đã có những người vợ đợi chồng trở về sau ngày độc lập của dân tộc, cũng như rất nhiều những lời hẹn ước của những đôi trai gái “sau ngày chiến thắng” mãi mãi không thực hiện được. Tôi muốn nói đến tình yêu thời chiến, thứ tình cảm của cái tôi riêng đã hòa chung trong cái ta chung, trong đó có rất nhiều mối tình hạnh phúc và cũng rất nhiều mối tình mãi mãi bị chia cắt, bởi “một nửa” đã vĩnh viễn nằm dưới những nấm mồ, dưới những nghĩa trang hay những khu rừng.

Tìm về với những nhân chứng lịch sử, những con người đã trải qua cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ để nghe họ nói về những năm tháng phải xa cách nhau nhưng vẫn vượt lên khó khăn để luôn hoàn thành nhiệm vụ chung và giữ gìn niềm hạnh phúc riêng của mình. Một trong những người mà chúng tôi tìm đến đó là vợ chồng GS.TSKH. Thiếu tướng Bùi Đại – nguyên Viện trưởng Viện Quân y 108, một vị tướng chuyên “diệt” sốt rét và bà Nguyễn Thị Dần – một bác sĩ chuyên về Tai – Mũi – Họng, đã có gần cả cuộc đời công tác tại Viện 108. Cán bộ Trung tâm CPD đã có một khoảng thời gian khá dài làm việc với hai vợ chồng Giáo sư để tìm hiểu về gia đình, thời thơ ấu, quá trình công tác và nghiên cứu khoa học. Qua quá trình làm việc, GS.TSKH Bùi Đại đã trao rất nhiều kỷ vật quý giá cho Trung tâm CPD, trong đó có những bức ảnh từ thời hai ông bà cưới nhau, những tấm bằng,… đặc biệt là những bức thư hai ông bà viết khi còn yêu nhau ở vùng đất Quế Trạo (Vĩnh Yên), từ khi ông còn là sinh viên năm thứ ba của Trường Đại học Y.

thu2
Đám cưới thời chiến của GS.TSKH Bùi Đại tại Bệnh viện Đại Đồng, Phú Thọ, 4/1950

Năm 1955, nằm trong số những cán bộ Quân y, ông Bùi Đại đã được cử đi Liên Xô nhằm bồi dưỡng hơn nữa về trình độ chuyên môn, sau này về phục vụ trong Quân đội và nhân dân. Đến năm 1958, ông Bùi Đại có trở về nước khoảng 10 ngày và quay trở lại Liên Xô để làm Luận án Phó tiến sĩ. Ở phương xa xôi, phương tiện liên lạc duy nhất giữa hai ông bà chỉ là những bức thư tay viết nắn nót trên những trang giấy được xé ra từ những quyển vở. Sau gần sáu chục năm trời, những nét chữ đã nhòe trên những trang giấy ngả màu cùng với thời gian, nhưng những ký ức về một thời vẫn còn được ông bà nhớ rõ mồn một qua ánh mắt và giọng nói trầm đều.

Đó là khoảng thời gian ông Bùi Đại phải xa quê hương, xa gia đình để đến một miền đất mới, học tập những kiến thức mới. Năm ông ra đi là 1955, lúc đó cũng là thời điểm ông và bà Nguyễn Thị Dần đã cưới nhau được 6 năm (ngày mồng 5/4/1950) và đã có với nhau được hai người con gái là: Bùi Như Nga (5 tuổi), Bùi Như Hương (2 tuổi), thêm vào đó bà Nguyễn Thị Dần còn đang mang thai người con trai thứ ba – Bùi Thắng.

Trò chuyện với chúng tôi, hai ông bà bồi hồi nhớ lại những năm tháng không thể nào quên ấy. Khi được hỏi làm thế nào để vơi bớt nỗi nhớ đối với quê hương, đối với vợ con, ông đã nói rằng: ở miền đất xa xôi ấy, giá kể mà có một chương trình tivi về quê hương mình thì cũng đỡ nhớ, ngoài thời gian học tập thì chỉ còn biết nhớ về gia đình, nhớ về tổ quốc thôi, cách xoa dịu nỗi nhớ là cầm bút lên viết những dòng thư gửi về nhà, ngoài ra còn có những người bạn Việt Nam để trò chuyện và tâm sự. Không khi nào vì vất vả, vì nhớ nhà mà người chiến sĩ lại quên đi mất nhiệm vụ của mình. Ông tâm sự rằng càng nghĩ về gia đình, về đất nước bao nhiêu thì càng phải phấn đấu bấy nhiêu.

thu1
Những trang thư này sẽ còn sống mãi với thời gian

Đằng sau những thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ với sự hy sinh thầm lặng không mệt mỏi. Giáo sư Bùi Đại luôn biết ơn tới người vợ của mình và luôn dành một tình cảm yêu thương sâu sắc nhất tới bà. Những ngày ông học tập ở Liên Xô thì bà vừa phải chăm nom hai đứa con bé, trong người lại đang mang thai người con thứ ba, vậy mà hàng ngày bà vẫn đạp xe đều đều lên Viện 108, xong công việc lại nhanh chóng trở về đón con và chăm nom cho gia đình bé nhỏ của mình. Bà đã bật khóc và nghẹn ngào không nói được thành câu khi nhớ về một kỷ niệm, đó là khi Giáo sư Bùi Đại ở Liên Xô về thấy bà gầy gò và xanh xao quá, trách móc bà là tại sao lại không chịu ăn uống, tại sao lại không biết tự chăm sóc. Dẫu đó chỉ là một cách thể hiện tình cảm, sự quan tâm của người chồng, nhưng chính sự quan tâm đó lại làm bà tủi thân. Bà kể rằng: không có tiền, không có điều kiện, trong hoàn cảnh đó ai cũng vất vả, ai cũng khổ cả, và nói thêm: “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn giận ông ấy vì chuyện đó, không biết đến bây giờ ông ấy đã hiểu hết tôi chưa?”. Làm sao mà không hiểu nhau được khi mà hai người đã sống với nhau 60 năm tình nghĩa vợ chồng, trải qua bao buồn vui, gian nan, cùng vun đắp hạnh phúc gia đình nhỏ trong niềm vui của một gia đình lớn.

Chính tình yêu làm nên mọi điều kỳ diệu, là chất men để người ta hăng hái hơn trong sự phấn đấu công việc, trong học tập. Còn y nguyên những dòng thư được viết từ những năm 1949 – khi hai người còn đang yêu nhau: “ ...nghĩ đến đó anh muốn bay ngay về Quế Trạo để được gần em. Nhưng, chưa thể được, em bé nhỉ, phải học hành cho xong hãy. Bé thường bảo rằng: “Em không muốn vì em, mà anh Đại trễ nải học hành”. Bé ngoan quá, càng nghĩ tới bé anh càng phải học. Lên năm thứ tư, rồi năm thứ năm, thì lúc đó mộng đẹp của chúng ta mới thành chứ” (trích bức thư ngày 23/3/1949, khi ông Bùi Đại đang là sinh viên năm thứ III Đại học Y, thư gửi từ Trung Giáp-Phù Ninh-Phú Thọ). 

Còn rất nhiều những trang thư khác với những lời lẽ yêu thương, động viên, dặn dò lẫn nhau của hai ông bà. Những lá thư còn lại mãi là những kỷ vật sống, minh chứng cho một thời kỳ lịch sử với những con người dám hy sinh, luôn đặt cái tôi riêng vào cái ta chung. Chia tay một vị tướng già, một nhà khoa học có nhiều cống hiến trong lĩnh vực chuyên môn, chúng tôi tự hỏi tại sao thời kỳ đấy người ta lại có thể sống và phấn đấu nhiều đến như vậy? Những bức thư đó sẽ là những hiện vật vô giá để những thế hệ sau có thể noi gương và học tập được nhiều hơn từ những người đi trước...

Nguyễn Thanh Hóa

(Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn di sản Tiến sĩ và các nhà khoa học Việt Nam)