Thứ ba, 22 Tháng 5 2012

Bộ sưu tập đôc đáo từ sông Hồng
Thứ hai, 22 Tháng 2 2010 08:00    PDF. In Email
Kể từ năm 1984, rời ghế Quản đốc phân xưởng Xí nghiệp Sứ Bát Tràng đến nay, ông Nguyễn Việt Hồng ngày nào cũng lọ mọ ra sông Hồng thu nhặt những cổ vật bị nước đánh dạt vào bờ. Đến bây giờ, ông đã có hẳn một bộ sưu tầm đáng nể với hàng nghìn mảnh gốm, sành có giá trị và những đồng tiền xu có niên đại Trước Công Nguyên.

Bí mật trong lòng sông

Xóm Chùa, xã Kim Lan, huyện Gia Lâm, Hà Nội, nơi ông ở nằm ven sông Hồng. Khoảng nửa sau của thế kỷ trước (những năm từ 1945- 1975), mảnh đất này bị nước sông Hồng liên tục xói mòn. "Nước sông Hồng đã xói lở đi khoảng 200 mét đất làng tôi tính từ mép sông bây giờ trở ra. Từ năm 1945 - 1969 nước sông đã "kéo" tụt mất 5 xóm xuống sông. Trong quá trình bào mòn của tự nhiên vô tình đã lộ ra dưới lớp đất chúng tôi sống bấy lâu nay vô số những cổ vật. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, có những mảnh gốm và đồng tiền đã tồn tại hàng nghìn năm trở về trước" - ông Nguyễn Việt Hồng cho biết lý do giúp  ông có hẳn cả một bộ sưu tầm cổ vật như hôm nay.

Đầu tiên, dưới lòng đất Kim Lan lộ ra sau những lần nước rút đi là những mảnh gốm. " Mỗi mảnh một kiểu dáng, một màu men không giống nhau, tất cả đều khiến tôi kinh ngạc không chỉ vì phát hiện ra ông cha mình làm gốm từ rất lâu rồi, mà còn làm ra những sản phẩm rất rất tinh xảo"- ông Hồng cho biết.

st1
Bộ sưu tập tiền cổ của sông Hồng

Trận lụt lịch sử năm 1971, một lần nữa nước sông Hồng lại đẩy lùi làng Kim Lan vào sâu hơn nữa. Ông Hồng kể: "Nước sông đã ngập đến ngang giường nhà tôi, nhưng vì không có điều kiện để chuyển đi nên phải nán ở lại trong khi bà con lối xóm đã sơ tán hết". Sau khi nước rút đi lại lộ ra một loạt cổ vật khác nữa. Năm 1996, đám trẻ con chăn trâu ngoài bãi phát hiện ra một hũ tiền nặng khoảng chục kg đem đi bán sắt vụn, ông Hồng đã ra tận nơi và vét lại được gần 2 kg còn sót lại.

Trong mớ tiền xu cũ kỹ tưởng như vứt đi đó có cả những đồng tiền Trung Quốc từ đời Đường, Tống. Đặc biệt có hai đồng ghi là "Thái Bình hưng bảo", "Thiên Phúc chấn bảo" được đúc từ năm 179 TCN thời Hán Văn Đế. Có cả đồng Tường Phù được đúc năm 1008 thời nhà Tống. Và vô số đồng tiền Việt từ thời nhà Đinh. "Những gì lộ ra từ trong lòng đất mà tôi thu thập được, qua nghiên cứu của các chuyên gia trong nước cũng như nước ngoài cho thấy sự tồn tại liên tục 10 thế kỷ của người dân làng Kim Lan. Ông cha xưa không những làm nghề gốm mà còn có đời sống tương đối sung túc mới có những hũ tiền như thế" - ông Hồng khẳng định.

Nhà ông trước kia ở giữa làng, qua sạt lở đã bị "đẩy" ra đến mép sông. Bên kia là bãi ngô ngút ngàn của đất Lĩnh Nam, được phù sa bồi đắp. Bên này là bãi Hàm Rồng đang ngày ngày bị nước ăn mòn từng tấc đất. "Trời đôi lúc chẳng công bằng, giá mà bên này được bồi, thì bao nhiêu di chỉ quý của đất Kim Lan đã không bị cuốn đi theo dòng nước..."- ông tiếc rẻ.

Gần vài chục năm "nhặt nhạnh" ông Hồng hãnh diện khoe với chúng tôi: "Bây giờ tôi đang sở hữu cả vài hũ tiền Khai Nguyên thông bảo, Hoàng Tống thông bảo, Thiên Phúc chân bảo... Có trong tay hàng nghìn di chỉ gốm, sành thuộc các niên đại thế kỷ XI - thế kỷ XVII...".

Cái "bảo tàng cổ vật mini" của ông được bố trí ở trong gian buồng nhỏ nhắn. Nó chỉ chừng chục mét vuông nhưng đã được xếp chật kín và ngăn nắp các loại đồ gốm cổ của các triều đại. Ông giải thích cặn kẽ về từng nhóm một: Từ đồ gốm thời Đường thế kỷ VIII-IX, thời Trần thế kỷ XIV cho đến các loại đồ gốm thời Lê, Mạc thế kỷ XVI...

Ông hồ hởi: "Đi sưu tầm "lịch sử" của làng của nước, để từ đó có thể tìm hiểu rõ hơn "nội lực" của làng Kim Lan xưa".

Tấm lòng "ông già cổ vật"

Vốn chữ Hán ít ỏi và kinh nghiệm mấy chục năm làm đồ gốm cũng đủ cho ông Hồng hiểu những gì ông thu lượm được là những di chỉ vô cùng quý giá, nhặt về xếp gọn gàng trong gian trưng bày. Ông hiểu không thể để những di vật ấy tiếp tục lở ra và trôi đi được, bởi chúng có ý nghĩa rất lớn không chỉ với đất Kim Lan quê ông mà còn cả với vùng đất Thăng Long, với quốc gia nữa. Càng nghĩ càng ông càng nỗ lực tìm kiếm nhưng cũng xót xa mỗi khi mùa lũ về.

Những cổ vật mà ông đã và đang sở hữu trong tay, vô cùng quý giá. Vì vậy, công việc ông đi tìm những mảnh cổ vật kia là ông đi tìm lại lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Ông kể đã có mấy đoàn khách nước ngoài đến đây ngỏ ý muốn mua lại các cổ vật của ông, và họ trả ông cái giá rất cao mà cả đời ông cũng không mơ nổi. Nhưng ông đã từ chối thẳng thừng, nhất định không bán chác gì cả. "Vẫn biết bán đi là có cuộc sống sung túc hơn, nhưng làm thế là bán cả những manh mối về lịch sử mảnh đất này, bán cả những tinh hoa ông cha để lại. Không thể được". - ông Hồng nói.

st2
Ông Hồng bên bộ sưu tập của mình

Bên cạnh việc sưu tầm những cổ vật ông luôn luôn đau đáu đi tìm câu trả lời cho những mảnh gốm, làm sáng tỏ phần lịch vùng đất bị thời gian che phủ. Làng Kim Lan có tự bao giờ, tên làng từ đâu mà ra và mang ý nghĩa hay không? Làng Kim Lan có một đình và bốn miếu, vậy đình và miếu đó thờ những ai và những vị đó có công gì với làng, với nước? Tổ tiên của làng đã tồn tại và phát triển như thế nào trong dòng chảy của lịch sử dân tộc?

Những câu hỏi đó luôn thường trực trong ông, nhưng đâu thể trả lời trong ngày một ngày hai. Vậy là ông tự học chữ Hán, tìm sách sử để mở rộng hiểu biết, rồi không ngại khó đi tìm các văn bia, văn bản, đồ vật trong đình chùa, miếu mạo để nghiên cứu. Ông say sưa kể với chúng tôi về những di vật cổ mà ông tìm thấy như bản ngọc phả của làng do Nguyễn Bính, Đại học sĩ Viện Đông các hàn lâm soạn năm 1472, bản chép sự tích thôn Kim Lan, sở, tháp nhiều tầng bốn mặt gắn tượng Phật như tháp ở chùa Phật tích Bắc Ninh, phù hương Long Mã (lư hương có hình thân rồng, đầu ngựa) chưa tìm thấy cái thứ hai ở Việt Nam... cùng lượng tiền cổ thuộc nhiều niên đại.

Chưa hết, chuẩn bị bước sang tuổi 76, ông đang có ý định học thêm tiếng Nhật để cho tiện việc nghiên cứu cổ vật.

Nhờ có những di vật quý, ông đã "tìm lại cội nguồn của làng", đã lần lượt trả lời những băn khoăn của bản thân. Theo bản Ngọc phả, làng Kim Lan ít nhất có từ thế kỷ thứ IX. Đình miếu Kim Lan thờ Đại vương Cao Biền, Trạc Linh, Trử Việt và Thành hoàng Thạch Việt cùng phu nhân Trần Khát Hòa Phương Dung. Tổ tiên của người Kim Lan chủ yếu sinh sống bằng nghề sản xuất gốm sứ và đất nung.

Ông già yêu quê hương đã làm việc đó một cách vô tư, không đòi hỏi bất kỳ sự đãi ngộ nào và cho đến nay vẫn chưa nhận được một chứng nhận nào cho những đóng góp của mình. Bao nhiêu năm nay, ông vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà nhỏ nằm mé sông. Trong ngôi nhà giản dị ấy ẩn chứa biết bao nhiêu câu chuyện về đời sống ông cha mình hàng nghìn năm trước mà không dễ gì ai cũng có được.

Theo Gia đình