| Người thợ rèn duy nhất còn “quai búa” ở Hà thành | ||||
|
|
Nguyễn Phương Hùng (50 tuổi) là đời thứ 3 trong gia đình và là người duy nhất ở phố Lò Rèn - Hà Nội còn giữ được nghề “Ngồi xuống nhọ lưng quệt ngang nhọ mũi/Suốt tám giờ chân than mặt bụi”. Tính từ khi anh bắt đầu xúc than, thổi bễ, cầm kìm, quai búa cùng cha cho đến nay đã 38 năm. Đây cũng là bễ lò rèn duy nhất “đỏ lửa” còn lại ở Hà thành... Nghề rèn có mặt ở Thăng Long, sử sách ghi có hai nguồn: một nhóm khá đông đảo đã đến lập nghiệp ở khu vực Tân Khai - Tân Lập, còn nhóm kia thì kéo đến khu vực gần cửa Nam, sau này là phố Sinh Từ. Nhiều năm sau, nghề rèn phát đạt, mở rộng thêm, một số thợ đã đến Kim Mã, Hàng Bột, Ô Cầu Dền... Một lượng thợ rèn từ Hòe Thị đã đến Tân Khai - Tân Lập để định cư, hành nghề, sau có thêm một số thợ các làng khác như Đa Sĩ, Đa Hội cũng đến đây, khiến vùng Tân Khai - Tân Lập có một hình ảnh điển hình là những bễ lò rèn và sản phẩm chính bày rất nhiều trước nhà. Do vậy mà đầu thế kỷ 19 xuất hiện phố Hàng Bừa.
Đến cuối thế kỷ 19, người Pháp mở mang phố xá, nên nguyên vật liệu bằng sắt rất thông dụng và suốt dãy phố nhà nào cũng có bễ lò rèn “phì phò hoạt động”. Từ đấy xuất hiện tên phố Lò Rèn. Lúc phát triển nhất, thợ rèn ở Nam Định, Thanh Hóa cũng đến lập nghiệp ở phố Lò Rèn, có gần trăm bễ lò hoạt động, trong đó quá nửa là lò rèn của người gốc Hòe Thị cùng nhau dựng một ngôi đình chung để thờ tổ nghề và các vị khai công đầu tiên đưa nghề rèn lên Thăng Long lập nghiệp. Cùng với thời gian, đình Lò Rèn giờ đã không còn nữa. Nếu tính từ đời ông nội Nguyễn Phương Hùng làm nghề cho đến đời anh cũng chừng hơn một thế kỷ. Anh bảo: Tôi quai búa cùng cha năm 12 tuổi. Thời ấy, người dân đến “đặt hàng” chủ yếu là dụng cụ nông nghiệp như răng bừa, cày, liềm, hái... nên người ta còn gọi phố này là Hàng Bừa chứ không phải phố Lò Rèn như sau này Pháp đổi tên. Ngày xưa ở phố nhiều hộ gia đình làm nghề rèn lắm. Suốt ngày rộn rã tiếng búa nện đe chứ không có tiếng máy móc, cán thép, cắt thép rít lên như bây giờ. Thời ông nội Nguyễn Phương Hùng là thời vàng son của nghề rèn. Thời ấy, khi Pháp sang Việt Nam mang theo rất nhiều thứ: xích lô, máy dệt, máy xay xát... Ông cụ cũng chính là người nhiều lần sửa hoặc rèn gia công một số kết cấu, hạng mục máy xay xát cho cụ Bạch Thái Bưởi, rèn dao kiếm, đạo cụ cho ông Tạ Duy Hiển - người được coi là đã khai sinh ra ngành xiếc Việt Nam hiện đại - và bắt chước chiếc máy dệt của Pháp đưa từ Hồng Kông sang, làm được cái máy dệt đầu tiên cho làng dệt Vạn Phúc. Khi Pháp vào Việt Nam, những người thợ rèn thế hệ cha của Nguyễn Phương Hùng làm “nhái” những thứ Pháp đưa sang: “Sau này, để phục vụ kháng chiến, cả phố Lò Rèn lại quay sang “rèn” vũ khí trong đó có cha tôi. Tôi nhớ cha tôi thường làm máy mì, miến, một số bộ phận của máy rang bỏng của Trung Quốc. Thời kháng chiến, cha tôi hoạt động trong tổ tam tam. Đến ngày lễ, Tết, ông lại nghỉ rèn cùng mọi người trong tổ cắt cử nhau bơi ra cắm cờ lên tháp Rùa”.
Đến đời Nguyễn Phương Hùng, đã trải qua gần 40 năm, nhưng Hùng chưa bao giờ có ý định bỏ nghề mà chỉ băn khoăn không biết có ai muốn nối nghiệp hay không. Hai con anh đang học đại học, còn người ngoài thì “thứ nhất không phải ai cũng có “trình” để làm rèn trong thời buổi có thể đút đoạn thép vào máy, sau vài phút đẩy ra một con dao, hay cái đục nữa. Nhiều nghề kiếm tiền bây giờ nhàn hơn, dễ hơn, khỏe hơn thì tội gì người ta “nhọ lưng làm rèn”? "Nhiều khi tôi cũng buồn nhưng nghề từ đời ông cha truyền lại, bỏ đi thấy có tội lắm...” - Hùng tâm sự. Ngôi nhà 26 phố Lò Rèn đến nay vẫn đỏ lửa, vẫn tiếng búa, tiếng đe chan chát vang lên mỗi ngày. Trong anh, Hà Nội bây giờ khác xưa nhiều quá. Khác nhất là về môi trường sống. Anh bảo: Xưa kia, phố phường quang đãng, tụi trẻ con có đất vạch vòng bắn bi, chơi đáo... Bây giờ, nhà chật, người đông, lũ trẻ đứa nào đứa ấy nom như cây cớm nắng, ngột ngạt, căng thẳng. Anh may mắn được thừa hưởng nghề của ông, cha nhưng nghề này cũng chẳng còn là truyền thống nữa vì đôi khi muốn có sản phẩm nhanh cũng không thiếu cách “can thiệp” bằng máy móc. Phố cổ giờ cũng “biến dạng” ít nhiều vì sự pha tạp kiến trúc không khoa học. Phố cổ hàng bao nhiêu năm tuổi đang và sẽ còn bị sự cựa quậy phát triển của xã hội “làm cho trẻ lại” nếu như sự vô lối ấy vẫn còn tiếp diễn... “Nhưng biểu hiện đó cũng là tất yếu, giống như nghề rèn của tôi vậy, nếu không còn ai kế nghiệp, làm nghề trên phố này nữa. Dĩ nhiên “tên phố thì sẽ mãi còn/ nghề mang tên phố khói sương phải đành...” - Nguyễn Phương Hùng nói. Theo Thể thao & Văn hóa
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






