| Phát triển văn hóa & trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa | ||||
|
|
Trong những năm qua, thuật ngữ xã hội hóa đã trở thành khái niệm quen thuộc trong các lĩnh vực đời sống văn hóa xã hội. Xã hội hóa được hiểu là sự chia sẻ trách nhiệm của nhà nước với khu vực dân sự, tranh thủ và sử dụng các nguồn lực từ khu vực này để thực hiện các công việc mà nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Đối tượng tham gia công tác xã hội hóa thường là các doanh nghiệp, doanh nhân, những nhà hảo tâm trong xã hội và lợi ích của hoạt động xã hội hóa là lợi ích chung của cộng đồng. Để có một cái nhìn tổng quát về vấn đề phát triển văn hóa và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp/doanh nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa, 36pho.vn đã có cuộc trò chuyện với PGS. TS. Nguyễn Văn Huy, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia, Ủy viên BCH Hội Di sản văn hóa Việt Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Phát huy Giá trị di sản văn hóa (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) để cùng tìm hiểu về vấn đề nêu trên.
PV: Là một chuyên gia nghiên cứu về di sản văn hóa, đã có rất nhiều dịp đi công tác và thăm quan tại nước ngoài, xin ông cho biết ở nước ngoài họ quan niệm thế nào về trách nhiệm xã hội của nghiệp và doanh nhân trong vấn đề phát triển văn hóa? PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: Ở các nước phát triển, các doanh nghiệp và giới doanh nhân rất quan tâm đến các vấn đề di sản, đặc biệt họ rất coi trọng thúc đẩy các hoạt động văn hóa. Có thể nhìn nhận mối quan hệ giữa doanh nghiệp/doanh nhân với văn hóa ở hai khía cạnh: Thứ nhất, bản thân doanh nhân và doanh nghiệp coi trọng văn hóa trong cả nhận thức và hành động. Họ thấy văn hóa là một nền tảng để họ phát triển và thành công. Khi thành đạt, họ tự cảm thấy phải có trách nhiệm trả ơn khách hàng nói riêng và cộng đồng vì đó là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong thành công của họ hôm nay. Thứ hai, ở nhiều nước, chính phủ có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp/doanh nhân đầu tư/ hỗ trợ vào lĩnh vực văn hóa thông qua cơ chế giảm thuế. Ở Mỹ nếu doanh nghiệp nào tài trợ kinh phí cho hoạt động văn hóa thì họ sẽ được miễm giảm thuế thấp hơn mức họ phải đóng bình thường. Điều đó khuyến khích người ta dành những khoản ngân sách của doanh nghiệp cho văn hóa. Hơn nữa tài trợ cho văn hóa cũng còn là một cách tiếp thị rất văn hóa mà có lợi lâu dài cho doanh nghiệp. Chính mối quan hệ tương hỗ này đã tạo nên câu chuyện thành công thúc đẩy văn hóa phát triển. PV: Ông có thể chia sẻ những câu chuyện mà ông ấn tượng nhất được không? PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: Tôi xin kể ra câu chuyện khi thăm quan Bảo tàng Thế giới thu nhỏ (Little World Museum of Man) (1) ở Nagoya, Nhật Bản. Đây là một bảo tàng tư nhân do Tập đoàn Meitetsu đầu tư xây dựng. Khởi nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vận tải đường sắt, nay Meitetsu trở thành một tập đoàn thịnh vượng kinh doanh đa ngành nghề. Giờ các ông chủ của tập đoàn trở thành những triệu phú, tỷ phú, họ thấy cần phải tri ân khách hàng sử dụng dịch vụ đường sắt của mình bằng cách bỏ tiền xây dựng bảo tàng Thế giới thu nhỏ. Đây là một công trình văn hóa rất lớn, mang đầy đủ các bản sắc văn hóa của thế giới trong khu thăm quan rộng lớn hàng trăm ha phải đi bằng ô tô. Qua đây, tôi cảm nhận sâu sắc câu chuyện đạo đức của doanh nhân với xã hội, tri ân khách hàng của doanh nghiệp bằng sản phẩm văn hóa chất lượng cao. Một câu chuyện khác cũng ở Nhật Bản là Tập đoàn in Toppan ở Tokyo mà bảo tàng chúng tôi có dịp hợp tác. Khi họ xây dựng trụ sở mới, họ dành hẳn một tầng để làm Bảo tàng lịch sử ngành in (2). Đây là một bảo tàng tuyệt vời giới thiệu lịch sử ngành in, lịch sử kỹ thuật in từ xưa tới nay, lịch sử ngành in ở Nhật Bản và lịch sử công ty Toppan. Việc ra đời bảo tàng này như một sự tri ân tiền nhân, tôn vinh các di sản mà tạo nên thành công của chính doanh nghiệp đó, đó là một cách làm văn hóa rất hay mà qua đó uy tín của Công ty được nâng cao. Có rất nhiều những thí dụ như vậy ở các nước phát triển. Trên thế giới có rất nhiều quỹ đầu tư, các nhà tài trợ đối với phát triển văn hóa và bảo tồn di sản mang tên doanh nhân như Rockerfeller Foundation, Ford Foundation, Toytota Foundation… Những quỹ này dành một ngân sách lớn cho phát triển văn hóa và bảo tồn di sản một cách đa dạng: nghiên cứu chiến lược phát triển văn hóa, môi trường từ quy mô quốc gia tới toàn cầu, phát triển các hoạt động giữa các nhà văn hóa trong một quốc gia, liên quốc gia; hay quỹ ACC (Mỹ) chuyên hỗ trợ các hoạt động giao lưu văn hóa giữa Mỹ với các nước châu Á. Các quỹ này kích thích phát triển văn hóa và các hoạt động này đã đưọc hình thành từ lâu và trở nên có tính truyền thống của các nước Âu-Mỹ. Ở New York, có một quảng trường mang tên doanh nhân Rockerfeller - nhà tài phiệt ngành đường sắt và công nghiệp Mỹ (Rockerfeller Center), họ tài trợ cho một nhóm để cùng xây dựng một công viên nhỏ trong một góc của thành phố. Mảng không gian nhỏ thôi nhưng là một thảm cỏ, một góc vườn, những chiếc ghế, tượng đài, hay thác nước tạo ra những không gian xanh nhỏ giữa những ngôi nhà trọc trời dành cho công chúng có thể nghỉ ngơi, hưởng thụ. Chính những sự đóng góp như thế thôi đã tạo nên dấu ấn văn hóa của doanh nghiệp, doanh nhân đó. Việc làm mang hai ý nghĩa, doanh nghiệp tri ân khách hàng và ngược lại công chúng trân trọng và biết ơn nhà tài trợ đã tạo nên những giá trị văn hóa đó. PV: Từ những câu chuyện quốc tế, ông có liên hệ gì về doanh nghiệp và giới doanh nhân Việt Nam? PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: Trong những năm qua kinh tế phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự đi lên của đất nước. Các doanh nghiệp đã tích lũy được những nguồn vốn lớn. Nhiều doanh nhân đã là những người giầu thực sự mà chỉ mươi mười lăm năm trước khó có thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, có thể nói các doanh nghiệp của ta rất ít hoặc gần như chưa hình thành thói quen đóng góp cho phát triển văn hóa. Dường như họ chưa quan tâm đúng mức đến các hoạt động thiết thực để phát triển văn hóa. Có thể thấy, các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện trách nhiệm xã hội của mình thông qua: - Đầu tư, tài trợ cho chùa. Đây là những hoạt động liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng và tâm linh. Hoạt động này ít mang tính chất văn hóa mà thiên về vấn đề tâm linh, điều này khác với hoạt động của các doanh nghiệp ở các nước phát triển. Nếu có tài trợ cho việc trung tu công trình kiến trúc nào thì họ can thiệp quá nhiều nên làm biến dạng công trình đó. Chẳng hạn có nhà doanh nhân tài trọ để phục hồi thành Tam Vạn ở Điện Biên. Thành này vốn là thành bằng đất của Hoàng Công Chất nhưng lại yêu cầu làm thành bằng gạch và nay thì thành đó không khác gì Vạn lý trường thành. Cách can thiệp như thế rất thô bạo. Thường ở các nước người ta tài trợ nhưng tôn trọng, không can thiệp vào công việc chuyên môn của các nhà văn hóa. - Có thể đầu tư hoặc sử dụng tiền để ủng hộ xóa đói giảm nghèo, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, như những hoạt động mang tính sự kiện và nhất thời. - Có thể tài trợ cho các sự kiện biểu diễn nghệ thuật phong trào hoặc sự kiện thể dục thể thao (giải bóng đá, bóng chuyền, tennis, goft…) mà ít tài trợ cho các hoạt động mang cho các hoạt động văn hóa đa dạng và đích thực. Cũng dễ hiểu khi các nhà tài trợ không thấy rõ lợi ích khi tài trợ cho văn hóa, thường không đi kèm các hoạt động quảng cáo và truyền thông rùm beng rầm rộ như là tài trợ cho thể thao, cho bóng đá. Họ chưa nhìn thấy những giá trị mà nó để lại trong lòng người rất sâu sắc từ thế hệ này sang thế hệ khác qua các hoạt động văn hóa, bảo tàng. Tài trợ cho các hoạt động văn hóa chính là tài trợ phát triển thương hiệu một cách bền vững và mạnh mẽ. Tôi mong rằng trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nhận thức được vấn đề này và đóng góp nhiều hơn cho các hoạt động văn hóa, bảo tàng, bảo tồn di sản vật thể và phi vật thể. P/V: Có nhiều ý kiến cho rằng các sản phẩm văn hóa của ta nghèo nàn, không hấp dẫn, ông nghĩ sao về vấn đề này? PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: Vấn đề khai thác, kinh doanh các sản phẩm văn hóa có thể nói là cái yếu của doanh nghiệp và giới doanh nhân chúng ta. Do chưa nhạy bén và sáng tạo trong việc khai thác, kinh doanh các sản phẩm văn hóa nên người ta e ngại khi đầu tư vào lĩnh vực này. Từ những bản sắc văn hóa của một quốc gia, một dân tộc, một nhóm tộc người, một khu vực địa lý, từ một di sản trong lịch sử người ta có thể tạo ra nhiều các sản phẩm văn hóa có chất lượng để kinh doanh một cách hiệu quả. Ở các nước phát triển, các doanh nghiệp họ đã quá nhuần nhuyễn trong vấn đề này, nhưng ở nước ta thì thấy còn ít quá. Có thể dẫn chứng ở nước láng giềng Trung Quốc, có những doanh nghiệp chuyên sản xuất các tiêu bản của các di vật, cổ vật, hiện vật khảo cổ học từ các đời Hán, Minh, Thanh như những cái đỉnh, cái rìu, tượng cổ… Các sản phẩm này được sản xuất với chất lượng cao, thường bán rất chạy, giá trị kinh tế cao nên các doanh nghiệp họ làm ăn rất phát đạt. P/V: Theo ông làm thế nào để giải quyết vấn đề này? PGS.TS. Nguyễn Văn Huy: Đến thăm quan các di tích, bảo tàng ở nước ta, người ta chỉ bán những sản phẩm lưu niệm mà ở đâu cũng có, không có các sản phẩm mang tính đặc trưng và riêng của từng bảo tàng, từng di tích. Các sản phẩm này không hấp dẫn thăm quan, nhàm chán với khách du lịch. Các doanh nhân cần phải có một tầm nhìn, cần phải đầu tư, bỏ tiền ra để tạo ra những mẫu mã mới với chất lượng cao. Có những chuyện bi hài mà tôi được chứng kiến, đó là người ta lo sợ khi sản xuất ra một sản phẩm văn hóa thì người khác sao chép, làm nhái mất bản quyền, nên người ta không sáng tạo nữa. Vấn đề nhà nước phải ra tay quản lý bằng pháp luật và phải làm sao để người ta không làm nhái được, làm thế nào mà ta giữ được bản quyền đó chính là thách thức của doanh nghiệp trong xã hội thị trường hiện nay. Nếu các doanh nghiệp dám vượt qua được thách thức đó, họ đầu tư vào thì kết quả đạt được không hề nhỏ. P/V: Còn trách nhiệm xã hội với với các làng nghề truyền thống ra sao, thưa ông? PGS. TS. Nguyễn Văn Huy: Các làng nghề truyền thống cần được đầu tư và có chính sách đầu tư thích hợp để giúp cho các nghề phát triển. Bản thân các làng nghề cũng cần thay đổi, cần có doanh nghiệp, các doanh nhân tham gia đầu tư để cùng với các thợ thủ công sáng tạo ra những mẫu mã mới trên nền tảng cách làm truyền thống để đáp ứng các nhu cầu cuộc sống (nhu cầu thị trường). Tôi xin nêu một ví dụ: làng gốm Phù Lãng (Bắc Ninh), người dân họ đơn thuần làm những sản phẩm như chum vại, các tiểu sành thì hiệu quả kinh tế không cao, nhưng khi có các nghệ sỹ tham gia sáng tạo, đưa ra các mẫu mã mới, làm ra các sản phẩm mới dựa trên cách làm truyền thống, thì làng gốm trở nên phát đạt. Đó chính là câu chuyện đương đại. P/V: Cuối cùng, ông có thể cho biết vấn đề phát triển bảo tàng tư nhân và các bộ sưu tập tư nhân? PGS. TS. Nguyễn Văn Huy: Bảo tàng tư nhân và các bộ sưu tầm tư nhân là câu chuyện bình thường của các nước. Hệ thống bảo tàng tư nhân ở nước ta bắt đầu hình thành. Sưu tầm, mua bán, trao đổi cổ vật phải dựa trên pháp luật và đưa ra hoạt động công khai. Nếu như thị trường đó không công khai, không cho phép, hoặc có những hạn chế thì họ sẽ làm chui lủi. Trong mấy chục năm qua, khi không có luật thì người ta đã buôn bán bất hợp pháp, bây giờ có luậtnhưng các hướng dẫn thi hành luật, các hoạt động đó vẫn chưa vào nề nếp. Muốn khuyến khích và bảo vệ các nhà sưu tầm tư nhân thì cần phải đưa ra được hành lang pháp lý phù hợp. Bảo tàng tư nhân ở nước ta đã ra đời, tuy nhiên ở các địa phương chúng ta nên khuyến khích phát triển các bảo tàng tư nhân với mô hình nhỏ, phù hợp với nguồn kinh phí của nhà sưu tầm tư nhân, nguồn đầu tư, trên cơ sở đó sẽ phát triển lên. Nếu cứ suy nghĩ bảo tàng phải to tát phải có nhà cửa, kho, trưng bày quy mô lớn thì sẽ rất khó để phát triển. Tôi thấy ở Luông Prabang, Lào có một bảo tàng tư nhân chỉ là một căn nhà một tầng vài chục mét vuông nhưng chất lượng trưng bày và hoạt động rất cao. Đó là một kinh nghiệm hay. Xin cám ơn ông đã dành thời gian cho buổi trò chuyện hết sức thú vị này. Tam Anh (36pho.vn thực hiện)
(1) Xem thêm: Website của Bảo tàng Thế giới thu nhỏ: http://www.littleworld.jp (2) Xem thêm: Website của Bảo tàng lịch sử ngành in: http://www.printing-museum.org (3) Xem thêm: Wikipedia Rockerfeller Center: http://en.wikipedia.org/wiki/Rockefeller_Center Tin cũ hơn:
|





