| Hà Nội vào Thu nhớ về những nghi lễ cổ | ||||
|
|
Cổ nhân có câu “Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu” nghĩa là: Một lá ngô đồng rơi, cả thiên hạ biết mùa thu đã đến. Theo quan niệm của người Hà Nội, mùa Thu là mùa đẹp nhất trong năm, mùa của hoa tươi, trái chín với gió heo may se lạnh. Người Kẻ Chợ thưởng thức hương vị mùa Thu với nhiều cách khác nhau, lãng mạn và ấm cúng, nhẹ nhàng và đằm thắm. Tuy nhiên hồn dân tộc trong những nghi thức tế lễ thì vẫn được giữ gìn và phát huy. ![]() Sử sách còn ghi lại những nghi lễ cổ diễn ra vào mùa Thu trên đất Thăng Long xưa mang đậm dấu ấn Á đông và nét cổ truyền của dân tộc Việt.
Hội đầu thu, tháng bảy Sách Việt sử lược ghi lại một nét đặc sắc của lễ thu Việt cổ trên đất Thăng Long thời Lý như sau: Ngày mồng 5 tháng 7 gọi là Đại tiết (Tết lớn), nhân dân chúc mừng nhau, người dưới biếu xén bề trên, Quan lại thì đem trâu bò dâng nộp vua. Ngày hôm sau, vua mở yến tiệc, thết đãi lại các quan. Người trên làm cỗ thết đãi người dưới cho dưới trên thuận hoà.Sang đến thời Trần, những nghi lễ này không còn nữa, mà thay vào đó là một nghi thức của văn hoá Trung Hoa đan xen văn hoá Việt xuất hiện. Đó là dựa vào hiện tượng tháng Bảy mưa ngâu "vào mồng 3 ra mồng bảy". Dựa vào câu chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ của thần thoại cổ mà tổ chức một lễ hội mang phong vị của nghề canh cửi. Vào ngày ngâu tháng Bảy, trẻ em được mặc quần áo mới và được vui chơi thoả thích. Đây còn gọi là Tết Trung nguyên, hay Rằm tháng Bảy. Thực chất của tết này là một lễ tiết gốc Phật giáo, qua Trung Hoa nhuốm thêm mầu Đạo giáo rồi du nhập vào nước ta. Vào Rằm tháng Bảy, người ta mở hội Vu Lan bồn (theo tiếng Phạn, tiếng nhà Phật có nghĩa là cứu khổ treo ngược), lấy bồn đựng một trăm vị rồi đem dâng cúng Phật để cứu cái khổ treo ngược. Việc cúng tế này nhằm vào mục đích là siêu độ cho các vong nhân, nên nghi thức làm cũng khá cầu kỳ và tốn kém. Theo sách Quảng sự loại kinh, đức Phật dạy rằng: Ngày Rằm tháng Bảy, các quan ở âm phủ xét xử những vong nhân lúc sống ở dương thế, nếu ở lành thì phong thưởng, ở ác thì bắt tội. Nhưng cả ác lẫn lành hôm ấy đều tha cho đi chơi cả. Cho nên tục truyền theo chữ gọi là xá tội vong nhân. Xét thấy dương gian sao thì âm phủ vậy, nên vào ngày Rằm tháng Bảy ở kinh thành Thăng Long thời đó, các tù nhân ở phủ đô hộ được ra khỏi trại giam, đi chơi phố xá. Còn trong dân gian, nhà nào cũng làm cỗ cúng tổ tiên bằng những đồ lễ như các thứ rau quả, bánh trái đựng vào lá sen và cũng lấy lá sen đậy lên, dùng giấy xanh đỏ làm hình nhân, đồ mã để dâng cúng tổ tiên. Tết Trung thu Tết Trung thu còn gọi là Rằm Tháng Tám. Xuất phát điểm từ đời Tống –Trung Quốc với tên gọi là Hội Trăng và Hội của đàn bà. Khi sang nước Việt, tết Trung thu trở thành Tết trông trăng của người lớn. Dân gian còn có câu "Muốn ăn lúa tháng năm trông trăng rằm tháng tám". Nhìn vào trăng mờ hay tỏ, trong hay đục mà nhà nông tiên đoán được sự được mùa hay mất mùa. Sau này, tết này biến thể đi thành tết của trẻ con. Sách xưa có ghi rằng: đời Tống ở Trung Quốc, có con cá chép vàng thành tinh, cứ đến Tết Trung thu thì nó hiện thành người đi dỗ đàn bà trẻ con hại lắm. Bao Công mới tâu lên với vua, sai dân nhà nào cũng phải làm đèn cá bằng giấy treo ở cửa nhà để nó trông thấy, nếu thấy giống nó thì nó đi, không đến nữa, vì thế dân mới được yên ổn. Từ đó về sau cứ đến Rằm tháng Tám người ta lại bồi giấy làm ra voi, ngựa, rồng, long mã, kỳ lân, sư tử ... và các thứ đèn cá cho trẻ con rước đi chơi. Do vậy, tục này cũng gọi là Tết Trẻ con.
Đây thực chất là sự lý giải của một nghi lễ nông nghiệp cổ truyền mang mầu sắc thần thoại ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Trong Tết Trung thu, nhà nào cũng ăn bánh trông trăng: bánh dẻo mặt trăng tròn, bánh nướng thập cẩm cũng tròn. Tết Trung thu cùng với bánh mặt trăng nên gọi là tết Trăng, tết Âm, và cũng tức là tết đàn bà. Tết Trùng Dương Tết này còn gọi là Tết Trùng cửu (mồng 9 tháng 9 Âm lịch). Theo sách Kinh Dịch của Trung Quốc thì quẻ Dương là Cửu (Dương Cửu), mồng 9 tháng 9 là Trùng Cửu nên gọi là Trùng dương. Sách An Nam chí lược của Lê Tắc thời Trần ghi rằng: "Những nhà quý tộc thường chơi thưởng tết ấy". Điều đó có nghĩa là ở Thăng Long thời Lý Trần có một bộ phận quý tộc chơi tết Trùng dương mà không phổ biến ở dân gian. Đây cũng là một nghi lễ ở Trung Hoa đan xen vào văn hoá Việt. Vào ngày Tết Trùng Dương, người ta lên núi, trèo cao và thả diều. Còn Hoàng hậu thì ăn chay, tẩy trần và dâng lễ cho con tằm, vào vườn ngắt lá dâu xanh. Theo y lý phương Đông thì thời tiết lúc bấy giờ khí âm thịnh (Tết Trăng), nên phải trèo lên núi cao để thu lấy khí dương (với mục đích để điều hoà âm dương). Còn việc thả diều thì thường thả vào mùa gió heo may (mùa thu) thể hiện khát vọng mong muốn mặt trời toả những tia nắng ấm áp lên toàn vũ trụ. Bên cạnh đó, các lễ hội mùa thu ở Thăng Long thời Lý, Trần cũng hết sức phong phú, song nổi bật là múa rối nước và đua thuyền. Sử sách còn ghi được rằng, vào lễ hội mùa thu, bến Đông Bộ Đầu (gần phố Hàng Than ngày nay) từ sớm đến tận chiều ngày 3 tháng Tám rộn ràng cảnh lễ đua thuyền và múa rối nước. Trải qua nhiều thế kỷ, đến cuối thế kỷ 19, theo quan sát và miêu thuật của người phương Tây đến Hà Nội thì "ở Hồ Gươm vào ngày 14 tháng 7 hàng năm người ta tổ chức thi thuyền độc mộc và thuyền thúng cho dân bản xứ, mỗi đội có màu áo riêng. Điểm xuất phát là đảo Ngọc Sơn...". Có lẽ việc này cũng xuất phát từ những nghi thức đua thuyền từ xa xưa chăng? Ngày nay, những nghi thức tế lễ vào rằm Tháng Bảy vẫn dựa vào nét văn hoá Vu Lan bồn như thời Lý, Trần. Không những thế, lễ Vu Lan còn thể hiện đạo lý báo ân, báo hiếu sâu đậm theo phong tục của người Việt Nam. Còn Tết Trung thu thì thực sự là ngày Tết của trẻ con không chỉ trên khắp đất Hà Thành mà trên toàn đất nước Việt. Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






