“Nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya”
Thứ năm, 20 Tháng 8 2009 00:00    PDF. In Email
Cùng với quá trình biến đổi và phát triển lâu dài của vùng đất Thăng Long – Hà Nội, những nếp ăn, ở và cả những phương tiện đi lại phục vụ cho đời sống của người dân vùng kinh kỳ cũng có sự biến đổi.

Thăng Long – Hà Nội được mệnh danh là “thành phố sông hồ”, nơi được bao quanh bởi hệ thống sông hồ dày đặc, chính vì vậy mà không thể không nhắc đến phương tiện giao thông là những chiếc thuyền. Có lẽ phải bắt đầu bằng chiếc thuyền rồng của nhà vua, các thuyền hoa của ông hoàng, bà chúa đi trong các kênh rạch nội thành Thăng Long.

Chẳng thế mà sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ  từ thành Hoa Lư dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” hay thuyết vua Lê Thái Tổ, sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược, trong một lần cùng quần thần đi thuyền rồng trên hồ Lục Thủy đã gặp rùa vàng và đã trả lại gươm thần để hình thành nên sự tích hồ Hoàn Kiếm. Nơi đây cũng từng được gọi là hồ Thủy quân tức là nơi tập luyện cho thủy quân. Có thể nói, thuyền được sử dụng không chỉ trong việc đi lại của vua quan, của người dân kinh thành mà còn được sử dụng trong buôn bán, giao thương của người Thăng Long với những thương nhân trong và ngoài nước.

Một du khách nước ngoài khi đến Thăng Long đã nhận xét: (thành phố Kẻ Chợ) nằm ngay bên bờ một con sông lớn bắt nguồn từ Trung Quốc sau một khúc ngoặt rộng. Việc buôn bán ở đây rất thuận tiện cũng như thuyền bè thường xuyên đi lại được trên sông. Ngoài ra sông còn chia tỏa ra khắp nơi bằng hệ thống kênh đào (sông Tô Lịch – Kim Ngưu) được nối liền với các con sông khác, làm người ta có thể dễ dàng mang lại mọi thứ hàng hóa từ các trấn ngoài đến buôn bán ở kinh thành.

Khi nền kinh tế của vùng kinh kỳ ngày càng phát triển, người thợ thủ công và thương nhân tập trung về đây ngày càng đông thì đã hình thành nên những con phố được xây đắp lên cao, rộng rãi hơn, hầu như đều được lát đá mà nói đúng hơn là được rải những hòn đá nhỏ. Chính điều này khiến cho người dân kinh thành đã dần thay thế thuyền là phương tiện vận chuyển duy nhất thành những chiếc võng, cáng nhiều loại.

Thời kỳ đầu, võng được ra đời dùng để khiêng người ốm khi không thể cõng được nữa, rồi võng gai của trẻ ngủ xâu vào đòn ống, đắp cái áo tơi hoặc cái chiếu là đủ. Những chiếc võng đơn sơ đó mở đầu cho thời kỳ võng cáng kéo dài đến tận đầu thế kỷ 20.

Võng cáng có nhiều loại, những người thường thường, trung lưu khi đi xa thì dùng cáng gồm có đòn (một đoạn tre, gỗ dùng để khiêng) và võng nhưng trên có cái mui khum khum ra hai bên, lúc nghỉ thì ghếch vào bờ rào. Các quan, các bà lớn thì cũng dùng cáng nhưng gọi là võng. Hình thức của nó cũng giống cáng nhưng võng bằng sợi se nhỏ, khổ rộng, có khung hai đầu căng ra. Trên cũng có mái lại có cả màn che thường bằng lụa hay mành.

Đi ngoài phố mà muốn cho người ta biết mặt hay diễu trong đám rước thì dùng “võng trần” không có mui.

Võng đã trở thành một phương tiện khá quen thuộc đối với những người chức tước, giàu có trong kinh thành trong một thời kỳ dài. Mãi đến cuối thế kỷ 20, từ Thượng Hải, Hương Cảng đã đưa loại “xe tay” vào Hà Nội. Ban đầu chỉ có loại xe mà hòm xe, sàn xe đều cao hơn trục bánh xe. Lối phố gồ ghề, đường rải đá dăm, bánh xe vành sắt khiến phố phường vang tiếng lóc cóc suốt ngày. Sau có cải tiến là xe bánh cao su. Người dân Hà Nội dần quen với xe kéo, rồi tiến gần tới “xích lô”. Những nhà có của hay sắm xe nhà, dùng một người kéo (gọi là anh xe).

Kéo xe lúc bấy giờ được coi là nghề hại người nhất ở Hà Nội. Chủ lo lót được Tây cho đóng xe, trao xe cho “cai” để thuê. Người kéo ấy phải lấy xe ở nhà cai, mưa nắng mặc kệ, không đủ tiền đóng thuế xe thì nó cho ăn đòn. Vậy mà còn có người khổ hơn, đó là những anh em không thuê được xe, chờ những lúc vắng khách hay nắng quá, anh phu xe chính nghỉ thì thuê lại để tranh thủ chở khách dưới cái nắng thiêu đốt, đá dăm cắm vào chân, nhựa đường nóng rát chân mà vẫn phải chạy.

Thiếu thuế, có khi phải lôi xe ra ngoại ô, bỏ đó mà trốn. Sau này bọn cai thắt chặt bằng cách làm căn cước, dán ảnh. Vậy thế mà có người còn pha trò: “Võng thì hai người mới khiêng được một, xe thì một người lôi được hai, ba, thêm con chó ngồi sàn xe nữa, chẳng văn minh là gì?”.

Đã có xe tay kéo thì cái cáng, cái võng dường như không còn đến thành phố nữa. Rồi khi Pháp vào Hà Nội, những chiếc xe “độc mã”, “song mã” với những chiếc ghế trước đã xuất hiện trông oai lắm. Cùng với đó là những hiệu xe cho thuê xe “song mã” trong các đám cưới, rồi những bộ đòn đám ma cũng bị thay thế bởi xe tang “song mã” và “tứ mã”.

Phải đến gần đại chiến thứ nhất mới thấy xuất hiện ở Hà Nội một vài các ô tô loại cổ. Chiến tranh kết thúc, có nhiều xe ô tô hơn và phải mở rộng cầu Long Biên cho xe đi qua.

Rồi đến tháng 5/1890, Công ty Điện địa Đông Dương xin phép chính quyền thực dân thành lập một cơ sở khai thác giao thông bằng tàu điện gọi là “Nhà máy xe điện”. Nhà máy đó đặt ở đầu làng Thuỵ Khuê nên dân Hà Nội ngày ấy gọi là “Nhà máy tàu điện Thuỵ Khuê”. Ngày 13/9/1900 chạy thử tuyến đường đầu tiên Bờ Hồ – Thuỵ Khuê. Tàu điện Hà Nội tồn tại trên chín thập kỷ. Tiếng chuông leng keng của nó tạo nên một nét riêng biệt của thành phố, đi vào tâm thức nhiều người dân Hà Nội. Do vậy, ai đi xa, khi nhớ về Hà Nội đều nhớ đến tiếng leng keng của tàu điện như một cái gì đó thân thương trong ký ức.

Thời Pháp thuộc mỗi đoàn tàu có hai hoặc ba toa, ở toa đầu có chia ra hai hạng vé: hạng nhất, hạng nhì. Hạng nhất có ghế đệm, ngồi ngang nhìn thẳng; hạng nhì ngồi dọc ghế cứng. Hàng hoá chất ở dưới ghế, thúng mủng quang gánh móc ở bên ngoài toa cuối. Đến những năm 1946, Hà Nội chìm trong cuộc chiến đấu cùng toàn quốc, các toa tàu điện trở thành chướng ngại vật rất có hiệu quả ngăn chặn bước đi của các đoàn xe cơ giới của thực dân gây chiến trên các nẻo đường phố phường.

Sau ngày giải phóng Thủ đô 1954, ta tiếp quản Nhà máy tàu điện. Các đoàn tàu được xoá bỏ cách phân chia thứ hạng và dần dần chữ tàu điện được gọi là xe điện. Xe điện phục vụ nhân dân khá đắc lực trong mấy chục năm ròng, nhất là thời gian sơ tán chống Mỹ.

Sự biến đổi các phương tiện giao thông cho thấy phần nào đời sống sinh hoạt của người dân Thăng Long – Hà Nội. Đến nay, Hà Nội có những phương tiện đi lại thuận tiện và hiện đại, đó chính là biểu hiện sự tiếp nối về phương tiện di chuyển của quá trình phát triển Thủ đô trong thời kỳ mới.

Nguồn: NHN