Về một thế hệ gác xép Hà Nội
Thứ tư, 28 Tháng 7 2010 10:26    PDF. In Email

Chúng tôi quen nhau ở  Thư viện Quốc gia năm 1986. Lúc đó Mai đang học Đại học Y Hà Nội. Trước tết năm 1988 (hay 1989), Mai hẹn chúng tôi tết đến nhà chơi. Nhà Mai ở 100 phố Hàng Đào. 

Gần trưa ngày mồng 3 tết, sáu chúng tôi có mặt ở nhà anh. Xe đạp gom vào cột điện sắt rồi khoá bằng một cái xích rất dài. Ngôi nhà bình thường, tường trát vữa và quét vôi mầu ve. Gian ngoài vốn đã hẹp lại thêm hai tủ bán đồng hồ nên càng chật hơn. Năm đó, đồng hồ điện tử đang là mốt, bán chạy như tôm tươi. Buôn bán ở Hàng Đào, Hàng Ngang dễ dàng, nhà mặt tiền không tự kinh doanh thì cho thuê, không tính theo mét vuông mà là xăng ti mét vuông. Mai kéo chúng tôi vào gian trong, căn phòng chật chội hơn cả phòng ngoài, vừa là bếp, vừa là phòng ăn. Chúng tôi loay hoay tìm chỗ ngồi nhưng Mai cũng không bận tâm. Anh vẫn lục lọi đồ ăn xếp ra bàn. Rồi tất cả chạm cốc đứng, ăn đứng nhưng Mai thản nhiên như không có chuyện gì, không một lời giải thích không có ghế, chắc anh quá quen với cảnh này?

Năm 1995, tôi viết bài về phố Hàng Đào, Hàng Ngang hỏi Chủ tịch phường vì sao các phố này một số nhà lại có nhiều chủ, ông Chủ tịch giải thích, phần vì con cái họ lớn nên tách hộ, phần là sau 1954, cán bộ, bộ đội về tiếp quản Thủ đô, nhiều gia đình trước kia buôn bán đã đóng cửa hàng nghe ngóng tình hình và nhiều nhà nhường mặt tiền cho cán bộ không có nhà ở nhờ còn họ vào gian trong cho yên tĩnh. Thế rồi có người trả nhưng cũng có người ở lì luôn.

gacxep_2871

Đầu thế kỷ XX, Hàng Đào vẫn còn nhà tranh xen lẫn nhà lợp ngói. Chính vì là nơi buôn bán từ lâu nên đất ở đây rất đắt, mua được một miếng làm cửa hàng không dễ, mặt khác nhà chức trách thu thuế môn bài theo chiều ngang mà không theo diện tích cửa hàng. Chiều ngang cửa hàng càng dài thì thuế càng nhiều, do vậy nhà cửa ở đây đều hẹp bề ngang. Kiến trúc đơn giản, đa phần có gác thấp, cửa sổ nhỏ nhìn xuống đường. Đó là hậu quả của chính sách ngu dân dưới thời nhà Nguyễn với nhiều thứ bị cấm kỵ. Luật Gia Long đã đề ra những điều khoản mang nặng sự độc đoán, áp đặt "nhà ở trong trường hợp nào cũng không được xây trên nền hai cấp hay chồng hai mái, không được sơn, không được trang trí... Nhà ở của người bình dân không được làm quá ba gian, năm vì kèo và không được trang trí".

Thực ra ngay từ đời nhà Lý, nhà của người Thăng Long cũng chật chội tối tăm. Sứ giả nhà Nguyên đã mô tả nhà dân ở Thăng Long: "Mái nhà làm thẳng một mạch từ đòn gióng xuống mái hiên vì vậy nóc rất cao nhưng mái hiên chỉ cách mặt đất trong khoảng từ 1 đến gần 2 mét nên nhà có phần tối. Phải trổ cửa sổ. Trong nhà không bầy bàn ghế, có giường phản hoặc trải chiếu cói ngay xuống nền đất. Bên cạnh giường có lò than đỏ để sưởi khi trời lạnh và để tránh hơi ẩm xông lên mùa mưa nắng. Cũng có những nhà lợp ngói có hình dáng như vẩy cá". Các mô tả nhà quanh khu vực Hồ Gươm của các phóng viên báo Pháp thường trú tại Hà Nội thập niên 80 thế kỷ XIX cũng cho thấy diện tích rất hẹp. Khu phố cổ Hà Nội với 76 phố chính trong đó có 15.270 hộ với hơn 1000 nhà cổ và nhà cũ. Theo thời gian, tỷ lệ diện tích tính theo đầu người ngày càng ít hơn.

Trước năm 1954, trừ những xóm lao động, thì hầu hết các gia đình không quá chật chội. Tháng 10/1954, cán bộ, đoàn thể và hàng vạn bộ đội về tiếp quản Thủ đô, người đông lên và lúc đó có chủ trương làm nhà tạm, nhờ vả các hộ trong nội thành, thế là những ngôi nhà cấp bốn diện tích chừng mười, mười lăm mét vuông được dựng lên nhanh chóng cùng bếp, bể nước, khu vệ sinh. Theo kiến trúc sư Ngô Huy Giao: "Lối sống tập thể vốn đã quen từ rừng núi nên dễ bằng lòng. Từ đó các khu tập thể ra đời. Hậu quả là đầu thập niên 60, chật chội và nhếch nhác lộ dần".

gacxep_2872

Đầu thập niên 60, Hà Nội bắt đầu xây dựng thí điểm khu nhà ở Kim Liên bằng phương pháp lắp ghép tấm nhỏ. Chỉ trong vòng hai năm rưỡi đã đưa vào sử dụng được 22 dãy 4 tầng với diện tích xây dựng là 17.350m2. Nhà có hành lang ở giữa hoặc một phía. Chỉ cán bộ cấp vụ, cục mới được phân căn hộ hai phòng, còn cán bộ nhỏ hơn chỉ được phân một phòng ở, bếp và nhà vệ sinh chung nhau. Diện tích mỗi phòng rộng 18-24 mét vuông. Vì dùng chung khu phụ dẫn đến điều kiện vệ sinh kém, mức độ ô nhiễm ở lối vào tăng.

Từ năm 1970-1975 và nhiều năm sau này, mẫu nhà ở lắp ghép tấm lớn được đưa vào xây dựng ở các tiểu khu Khương Thượng, Trung Tự, Giảng Võ, Vĩnh Hồ, Thành Công,... Căn hộ đã được tổ chức hợp lý hơn với diện tích phòng ở tương đối thích hợp (thường có hai phòng với tổng diện tích từ 24 đến 28 mét muông. Tuy nhiên nhà có hành lang bên nên chưa bảo đảm điều kiện yên tĩnh cách ly, muốn vào nhà nọ phải đi qua trước mặt nhà kia. Sau này mới có thêm mẫu nhà đơn nguyên với bốn căn hộ một cầu thang được xây dựng ở khu Bách Khoa. Lúc bấy giờ, do yêu cầu ưu tiên là xây gấp để giải quyết chỗ ở cho cán bộ, công nhân viên song lại theo đúng phương châm "thích dụng, tiết kiệm, vững chắc, hợp với mỹ quan trong điều kiện có thể", cho nên yêu cầu về thẩm mỹ chưa được chú ý.

Những khối nhà lắp ghép tập thể giống hệt nhau với bố cục, không gian của quần thể đơn điệu thường chỉ dùng kiểu sắp xếp song song, chạy dọc theo các đường trục. Và điều dễ nhận thấy ở các khu tập thể lắp ghép này là việc đầu tiên xây dựng không đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không đầy đủ cũng như chất lượng xây dựng, chất lượng vật liệu và trang thiết bị đều rất kém nên chóng hư hỏng và xuống cấp. Xây dựng kiến trúc dường như cũng nhất quán triệt để với tinh thần chủ nghĩa xã hội là công bằng nên diện tích các căn phòng đều bằng nhau.

gacxep_2873

Nhà bác tôi ở B8 Kim Liên, gia đình gồm năm người, ba gái, hai trai sống chen chúc trong một căn hộ hơn hai mươi mét vuông. Chật nhưng cũng là quá giấc mơ của ông. Lại nhớ bạn của bạn tôi sau bao năm làm công nhân ở xí nghiệp Mì Thượng Đình mới xây nổi căn phòng bằng gạch xỉ. Đêm đầu tiên không sao ngủ được. Sướng đến trào nước mắt vì được ôm vợ thoải mái mà không sợ lũ trẻ nhìn thấy.

Nhà bạn tôi, diễn viên Trọng Trinh, tam đại đồng đường trong căn hộ tầng 2 ở tập thể Trung Tự, tổng cộng mười một người ở trong diện tích 28 mét vuông. Các hộ tầng một còn lấn chiếm được đất phía trước sau để xây thêm, nhưng các hộ trên gác chỉ có cách duy nhất là làm "chuồng cọp" (lồng sắt, đua ra không gian). May mà ông Trần Hoàn (nhà tầng một, lúc đó đã là Bộ trưởng Bộ Văn Hóa - Thông tin) thông cảm để yên cho làm. Bữa cơm nhà anh phải chia làm nhiều lần vì không có chỗ ngồi. Bố Trinh được ưu tiên sống ở "chuồng cọp". ông ngủ ở cái lồng treo lơ lửng hơn hai mươi năm. Các thành viên khác dù đã có vợ cũng phải ngủ úp thìa mới chứa hết từng ấy người. Thực ra không riêng nhà Trinh phải làm chuồng cọp, hầu hết các hộ dân sống ở các khu tập thể Kim Liên, Vĩnh Hồ, Giảng Võ, Nguyễn Công Trứ, Thanh Xuân đều tăng diện tích ở như vậy. Hiện các thành viên trong gia đình có chỗ ở rộng rãi hơn và anh trai Trinh là Trung thường bày tỏ: "Nhờ bức tường Berlin sụp đổ nên mới được ở ngôi nhà này". Trung vốn là kiến trúc sư, lương không đủ sống nên xin đi xuất khẩu lao động ở Cộng hòa dân chủ Đức.

Vì nhà chật, rất nhiều gia đình cưới vợ cho con trai buộc phải làm gác xép. Có thêm con thêm cháu cũng phải làm gác xép. ở khu tập thể Nguyễn Công Trứ, do trần thấp nên mặt gác xép cách trần chỉ hơn nửa mét. Buổi tối đi ngủ phải bò chứ không thể lom khom vì cộc đầu. Gác xép thường làm bằng ván các thùng hàng. Ai khó tính thì bào nhẵn hai mặt, còn dễ tính hoặc không đủ tiền công chỉ bào một mặt, phía dưới còn đầy chữ CCCP (viết tắt của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết). Người ta "phiên dịch" bốn chữ CCCP là "các chú cứ phá" hay "càng cho càng phá". Nôm na là như vậy nhưng "các chú cứ phá" phản ánh xã hội thời kỳ này. Nếu vợ chồng muốn "sinh hoạt" phải chờ mọi người trong nhà ngủ nhưng cũng phải tuyệt đối nhẹ nhàng, thấy ai phía dưới trở mình là nín thở. Có người nói, lứa sinh ra trong thập niên 70 là thế hệ gác xép.

Theo Đời sống & Pháp luật