Những dòng chảy quá vãng
Thứ sáu, 03 Tháng 7 2009 10:44    PDF. In Email
Thăng Long – Kẻ Chợ là đô thị của sông hồ. Có những dòng chảy xưa, nay có thể chỉ còn là vết tích, có thể còn là dòng nước nhưng chả đáng gọi là “sông”. Một cách nghiệt ngã, gọi đấy là những dòng sông chết cũng được.  

Sông Từ Liêm 

“Nó ở chỗ nào mà nghe lạ thế ?”

Cũng chỉ là sông quen thuộc của nghìn xưa và nay vẫn còn tồn tại, còn vết tích, có điều đã đổi họ thay tên.

Tên sông Từ Liêm đã đi vào chính sử. Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại kỷ, quyển 1, khi kể chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh viết: “Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm”.

Còn Từ Liêm là một đơn vị hành chính thì đã ghi trong sử đời Đường, Trung Quốc. Sau này học giả Đào Duy Anh trích dịch trong bộ Đất nước Việt Nam qua các đời: “Năm Thiên Quan thứ nhất (tức 627 dương lịch) rời trụ sở Giao Chỉ đến châu Nam Từ cũ. Châu Nam Từ gồm ba huyện Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập”.

Nay Hà Nội còn huyện Từ Liêm, to nhỏ thế nào so với cái “huyện” đời Đường thì không rõ. Ô Diên thì là tên một tòa thành cổ, từ thời Lý Nam Đế – Triệu Việt Vương thế kỷ VI, nay còn dấu tích ở làng Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây. Sông cho huyện mượn tên hay ngược lại thì chưa thể xác định. Chỉ biết cái tên sông Từ Liêm có từ thời… Hùng Vương. Nếu không thì cũng có từ thời Ngô Sĩ Liên soạn Toàn thư, tức cuối thế kỷ XV.

Cho tới trước khi có hệ thống đê chạy dọc sông Hồng, tức trước thế kỷ XI, thì sông Hồng tới chỗ nay là xã Trung Châu, Đan Phượng đã tách ra một nhánh chạy về bên hữu ngạn theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua các làng Hạ Mỗ, Vĩnh Kỳ, Thượng Hội, Hạ Hội – nay thuộc Đan Phượng – và Tây Tựu, Phú Diễn – nay thuộc Từ Liêm – thì chuyển hướng về Nam… Đó chính là sông Từ Liêm, nay gọi Nhuệ. Vì những vùng đất sông này đi qua chính là huyện Từ Liêm và huyện Ô Diên xa xưa.

Năm 557, Lý Phật Tử xây thành Ô Diên ở cửa sông Từ Liêm. Thành này không còn, nhưng dân Hạ Mỗ vẫn cho là xứ đồng, ngoài đê là khu thành cổ Ô Diên. Sau này, khi có đê, cửa sông Từ Liêm bị lấp thành đồng, dĩ nhiên nằm ngoài đê. Nhưng khúc sông trong đê thì vẫn còn. Không rõ tên sông Từ Liêm được thay bằng Nhuệ Giang từ bao giờ.

Đại Nam nhất thống chí giải thích vì khúc nguồn nó nhọn như cái dùi – Nhuệ, nghĩa đen là “nhọn hoắt”. Những vùng nó chảy qua đều là đất văn hiến. Làng Chèm có Thánh Chèm Lý Ông Trọng, tài năng khiến vua Tần phải kính nể. Cổ Nhuế là quê Nguyễn Mạnh Tường, đỗ bi đốc tơ (hai bằng tiến sỹ) năm 23 tuổi. Đại Mỗ có ba cha con ông cháu Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Kính, Nguyễn Quý Ân đều danh thần danh tướng đời Lê. Tả Thanh Oai nức tiếng với dòng họ Ngô Thì.

Sông Thiên Phù

Bản đồ phủ Phụng Thiên, tức thành Thăng Long vẽ năm 1490 vẫn có sông này. Qua đó, và khảo sát địa hình các làng Phú Xá, Phú Gia, Nhật Tân ở bên trên Hồ Tây, có thể kết luận: Từ chỗ giáp giới hai làng Nhật Tân (xóm Bắc) và Phú Xá có con sông từ sông Hồng vào, theo hướng Bắc Nam, qua Quán La Sở, Bái Ân, Yên Thái thì nhập vào Tô Lịch. Đó là dòng Thiên Phù Giang ghi trên bản đồ trên.

Sông không còn, vết tích chỉ là những ruộng sâu chạy từ Phú Xá xuống Bái Ân, Yên Thái. Làng Bái Ân còn giữ lệnh chỉ của chúa Trịnh Doanh (1720 – 1767) cho dân cày cấy ở một khúc Thiên Phù để lo đèn nhang. Như vậy tới thế kỷ XVIII, sông này bị cạn, từng khúc trở thành ruộng sâu cấy lúa.

Dân Hồ Khẩu, Yên Thái, Nghĩa Đô, Bái Ân vẫn truyền nhau câu chuyện giải thích hiện tượng Thiên Phù cạn dòng. Đời Lý, ngã ba Thiên Phù – Tô Lịch nước chảy mạnh xoáy vào góc thành, có nguy cơ vỡ. Vua đang đau mắt, đám đồng cốt phán phải trấn yểm, vào một buổi sáng ném người nào đến bên sông sớm nhất. Rồi vợ chồng ông Vũ Phục ở làng Minh Tảo – nay là Xuân Tảo, Từ Liêm – làm nghề bán dầu bị lính bắt ném xuống sông. Quả nhiên sông cạn đi, không đe dọa tường thành nữa. Ngã ba sông được lập đền thờ ông Dầu bà Dầu.

Thực chất thì Thiên Phù cạn đi vì cửa sông bị đê đắp chặn, hoặc phù sa bồi rồi người ta tiện thể ngăn luôn cửa sông lại, biến nó thành ruộng đồng.

Sông Tô Lịch

Sông Tô một dải trong ngần 

Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa

Đã có thời sông Tô đẹp như vậy đấy, khi nó là dòng giao thông quan trọng nối Thăng Long với vùng phía Nam. Một dòng sông đĩnh đạc, đàng hoàng.

Sách Lĩnh Nam chích quái cuối thế kỷ XV có Truyện sông Tô Lịch: “Năm Hàm Thông thứ 6, vua Đường ý Tông sai Cao Biền làm Đô hộ tướng quân, đem binh đánh giặc ở Nam Chiếu. Lúc Biền trở về, nhà vua đặt Tĩnh Hải quân ở thành Lĩnh Nam, cho Biền làm Tiết độ sứ. Biền thông hiểu thiên văn địa lý, xem hình thế đất mà xây thành Đại La ở phía Tây Lô Giang (tên sông Hồng thời cổ), chu vi 30 dặm để ở. Có dòng sông con từ Lô Giang chảy vào hướng Tây Bắc, cuốn quanh phía Nam, ôm lấy thành Đại La rồi lại nhập vào sông Cái. Hồi đó đang giữa tháng sáu nước mưa lên cao, Biền cưỡi thuyền nhẹ thuận dòng vào tiểu giang đi khoảng một dặm, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa sông, cười nói tự nhiên. Biền hỏi họ tên. Đáp: ta họ Tô tên Lịch. Biền lại hỏi: Nhà ở đâu? Đáp: nhà ở trong sông này. Dứt lời, lấy tay đập nước bắn tung mùa mịt, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Biền biết là thần, bèn đặt tên sông là Tô Lịch…”

Năm 1889, thực dân Pháp lấp đoạn đầu nguồn, nước sông Hồng không đổ vào được nữa, lại phải hứng nước thải thành phố, sông hư bẩn nặng nề. Nay coi như sông Tô có nguồn từ làng Thụy Khuê qua chợ Bưởi, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, vòng vèo trên 20km qua Nhân Mục, Đại Kim, Thanh Liệt, Đông Mỹ… Từ Đông Mỹ sông chuyển sang phía Tây, độ 10km thì nhập vào sông Nhuệ ở làng Hà Liễu, Thường Tín, Hà Tây.

Sông Kim Ngưu

Sông chạy thẳng tắp từ cửa cống đầu đường Trần Khát Chân qua đường Minh Khai đến đền Lừ rồi nhập vào sông Sét. Nhưng đó là Kim Ngưu mới có từ những năm 60 của thế kỷ trước để thoát nước thải, chứ Kim Ngưu trong sử sách thì khác.

Đại Nam nhất thống chí, soạn nửa cuối thế kỷ XIX chép rằng nó “ở phía Bắc Thanh Trì, xưa thông với Tây Hồ, sau bị bồi lấp dần, nay nước sông từ địa phận trại Yên Lãng huyện Vĩnh Thuận chảy xuống cầu đá, qua các huyện Thọ Xương, Thanh Trì, Thượng Phúc quanh co hơn 80 dặm, rồi hợp với sông Nhuệ. Tương truyền Cao Biền muốn đào núi Lạn Kha, có trâu vàng từ trong núi xổng ra, ẩn trong Hồ Tây, trâu chạy đến đâu thành sông đến đấy nên nhân vậy gọi tên sông”. Đó là con sông có giá trị giao thông, thuyền gỗ to chở hàng, khách chạy xuống tận Vạn Điểm.

Cái dòng mới đào nói trên, ở gần dòng Kim Ngưu cổ (tức sông Gạo hình cánh cung chảy từ Lạc Trung vòng xuống Vĩnh Tuy), đến chỗ đền Lừ thì nhập vào dòng Kim Ngưu cổ. Trên bản đồ của Cty Thoát nước Hà Nội hiện nay, nó được gọi là Kim Ngưu Thượng, đổ vào sông Sét. Còn tên Kim Ngưu hạ dùng để chỉ chính đoạn sông Tô Lịch từ Thanh Liệt đến Yên Ngưu. Đành vậy!

 

 

 


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: