| Nghệ thuật giải phóng Thủ đô - Không đánh mà thắng | ||||
|
|
1. Nhìn lại nghìn năm Thăng Long - Đông Đô – Hà Nội
Trong nghìn năm tồn tại và phát triển của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Thủ đô ta đã phải trải qua 10 cuộc chiến tranh và một cuộc tổng khởi nghĩa chống ngoại xâm. Đó là cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 077), Lý Thường Kiệt đánh sang địa bàn xuất phát của quân Tống rồi lui về phòng ngự bên sông Như Nguyệt bảo vệ an toàn Kinh đô Thăng Long. Đó là ba cuộc kháng chiến đời trần chống quân Mông – Nguyên (1257 - 258; 1284 - 1285; 1287 - 1288), ba lần rút ra khỏi Thăng Long, ba lần giải phóng Thủ đô. Là cuộc khởi nghĩa dấy binh 10 năm của Lê Lợi - Nguyễn Trãi cuối cùng vây hãm thành Đông Quan, đánh bại hai đạo quân viện binh của Liễu Thăng, Mộc Thạnh, bức hàng Vương Thông, giải phóng Đông Đô (1427). Là cuộc tiến quân thần tốc của Quang Trung với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa xuân Kỷ Dậu (1789) đại phá quân Mãn Thanh “ đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (lời Vua Quang Trung). Thời hiện đại là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) và trận “ Điện Biên Phủ trên không” đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Đó là những cuộc kháng chiến và khởi nghĩa thắng lợi vẻ vang. Có hai cuộc thất bại là nhà Hồ thua quân Minh (1406) và nhà Nguyễn thua quân Pháp (1873, 1883). Trong các cuộc chiến tranh nói trên, hình thái giải phóng Kinh đô, cũng có thể dùng cách đánh trực tiếp vào quân địch đóng tại Kinh đô, cũng thông qua một thắng lợi quyết định trên một chiến trường khác để giải phóng Kinh đô hoặc bảo vệ Kinh đô (như trường hợp Lý Thường Kiệt). Qua 10 cuộc chiến tranh và một cuộc tổng khởi nghĩa trong 1.000 năm lịch sử, Thăng Long - Hà Nội đã có những thành công độc đáo: - Thành Thăng Long - Hà Nội đánh thắng hai đế quốc mạnh nhất thế giới thời đại: Mông - Nguyên là đạo quân xâm lược mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều nước từ Á sang Âu, từng làm chủ Trung Quốc, vậy mà sang Đại Việt thì ba lần bị thất bại. Đế quốc Mỹ chưa kịp thua ở đâu, trừ ở Việt Nam và chịu rút sau khi thua trên bầu trời Hà Nội, - Khởi nghĩa ngày 19 - 8 ở Hà Nội là một thắng lợi quyết định và Cách mạng Tháng Tám là một sáng tạo độc đáo Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc quan niệm cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc. “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, thành lập Mặt trận Việt Minh, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, tạo lực lượng chính trị từ khối đại đoàn kết toàn dân, từ lực lượng chính trị tạo ra lực lượng vũ trang ba thứ quân, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa, không lấy nông thôn bao vây thành thị mà đi hai chân, ba vùng: cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, cả khu giải phóng Cao - Bắc - Lạng, nông thôn và thành thị. Nắm thời cơ chỉ trong một cái "chớp mắt của lịch sử" để vùng dậy tổng khởi nghĩa. Thời cơ ngàn năm có một chỉ xuất hiện trong 15 ngày. Ngày 13 - 8 - 1945 Nhật đầu hàng, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra quân lệnh số 1 hạ lệnh khởi nghĩa. Ngày 14-8, khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Quân giải phóng đánh Nhật ở thị xã Thái Nguyên, giải phóng thị xã Tuyên Quang. Ngày l9 - 8, Hà Nội vùng lên không chờ quân giải phóng. Khởi nghĩa ở Hà Nội thành công lôi cuốn cao trào cả nước, chỉ sau một tuần từ ngày 19 đến ngày 26 - 8 - 1945, tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Ngày 27 - 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ lâm thời, một ngày trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật. Ngày 19 - 8 của Hà Nội đã đi vào lịch sử. Sáu mươi ngày đêm Hà Nội năm 1946 là một hiện tượng độc đáo. Trong lịch sử các cuộc chiến tranh cách mạng chưa có một trường hợp nào lực lượng vũ trang non yếu có thể đương đầu với một quân đội nhà nghề trên địa hình thành phố. Thế nhưng Hà Nội mùa Đông 1946 đã đương đầu thắng lợi, kìm chân giam giữ một lực lượng quân Pháp khoảng 6.500 tên trong suốt hai tháng, vượt gấp đôi thời gian quy định, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến. Những sự kiện trên càng làm nổi bật vị trí, vai trò của Thăng Long - Hà Nội đối với sự mất còn của cả nước. Một nghìn năm đã vậy, mãi mãi muôn đời sau vẫn như vậy. 2. Bàn về nghệ thuật giải phóng Thủ đô: không đánh mà thắng Không đánh vào Hà Nội mà giải phóng Thủ đô là một thành tựu kỳ diệu của sự chỉ đạo chiến tranh tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Đông - Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Mọi người còn nhớ trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp không diễn ra ở Thủ đô mà ở Điện Biên Phủ, đưa đến kết quả giải phóng hoàn toàn miền Bắc và giải phóng Thủ đô. Nói đến tài thao lược là nói đến sự chỉ đạo chiến lược và chiến dịch đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. - Về chỉ đạo chiến lược: trong Hội nghị Bộ Chính trị họp tháng 10-1953 tại Việt Bắc, khi nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo: Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp Nava đang tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ một lực lượng cơ động lớn chưa từng có kể từ khi khởi đầu chiến tranh Đông Dương, thì Bác Hồ chăm chú nghe, bàn tay Bác giơ lên và nắm lại. Bác nói: "Địch tập trung quân cơ động để tạo sức mạnh. . . không sợ? Ta buộc chúng phải phân tán ra thì sức mạnh đó không còn." Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón tay chỉ về một hướng. Câu chuyện năm ngón tay của Bác Hồ sau này được lưu truyền như một huyền thoại, ứng với năm đòn tiến công chiến lược trước Điện Biên Phủ khiến khối cơ động chiến lược của Nava bị phân tán đi năm hướng. Năm đòn tiến công chiến lược: giải phóng Lai Châu, bao vây Điện Biên Phủ, tiến công chiến lược ở Trung Lào, Hạ Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào, chiến tranh du kích ở khắp vùng sau lưng địch: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. - Về chỉ đạo chiến dịch: khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên tới mặt trận Điện Biên Phủ, bộ phận tham mưu và đoàn cố vấn đi trước chuẩn bị chiến trường đề nghị phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh", tranh thủ khi địch còn đứng chân chưa vững, dốc toàn lực đánh trong ba đêm hai ngày tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Tuy không tin vào phương án này nhưng thấy mình vừa mới tới chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ ý kiến của đa số, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý triệu tập Hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến theo phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Sau 11 ngày đêm theo dõi tình hình địch và suy nghĩ đêm cuối cùng thức trắng, đầu nhức phải bó nắm ngải cứu trên trán, sáng ngày 26- 1 - 1954 là ngày quyết định nổ súng, Đại tướng trao đổi ý kiến thống nhất với trưởng đoàn cố vấn, tiếp đó đưa ra Đảng ủy mặt trận thay đổi cách đánh. Cuộc trao đổi trong Đảng uỷ diễn ra sôi nổi. Tất cả cho rằng bộ đội quyết tâm cao, mọi mặt đã chuẩn bị, phải đánh nhanh nếu không sẽ mất thời cơ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt câu hỏi: "Bác Hồ dặn: chắc thắng mới đánh, vậy đánh nhanh có đảm bảo 100% thắng lợi không?". Không ai dám khẳng định. Cuối cùng Đảng ủy nhất từ thay đổi cách đánh, chuyển từ phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Quyết định thay đổi cách đánh trong tình thế từ trên xuống dưới quyết tâm chiến đấu theo phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh", các đơn vị đã vào vị trí chiến đấu chờ lệnh nổ súng, mấy vạn quân đã dàn trận dạn đã lên nòng, nhưng kiên quyết đình lại, kéo pháo ra, cho Đại đoàn 308 tiến sang Lào, để đánh lạc hướng địch, tất cả lại về vị trí tập kết, chuẩn bị theo phương án mới, đó là quyết đinh khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Quyết định thay đổi cách đánh được triển khai, sau đó báo cáo về Trung ương bằng thư hoả tốc, được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và cho biết sẽ động viên hậu phương dốc toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng. Nhiều học giả trong và ngoài nước cho rằng điều độc đáo sáng tạo của Điện Biên Phủ là cách đánh. Xin đơn cử ý kiến của Pitơ Mắcđônan - nhà nghiên cứu lịch sử quân sự người Anh: "So với các trận vây hãm trong Đại chiến thế giới lần thứ hai như quân Mỹ cố thủ ở Bataan 66 ngày, quân Đức bao vây Xtalingrát 70 ngày, quân Anh giữ Tôbrúc 241 ngày, rồi trận một triệu quân Xô viết vây đánh 33 vạn quân Đức ở Xtalingrát thì trận Điện Biên Phủ với 5 vạn quân Việt Minh vây đánh 1 vạn 6 nghìn quân Pháp trong 56 ngày đêm chưa phải là kỷ lục. Tuy nhiên, điều làm cho Điện Biên Phủ nổi tiếng chinh là cách đánh: tiến trình diễn biến cuộc chiến đấu, kết cục và hệ quả mà nó mang đến, tất cả những điều đó làm cho Điện Biên Phủ trở thành một trận đánh quyết định nhất của thời đại và đưa tên tuổi Võ Nguyên Giáp vào sử sách". Thắng ở Điện Biên Phủ, không đánh vào Hà Nội mà giải phóng Thủ đô là như vậy. Ấy là chưa kể tác động của Điện Biên Phủ đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Theo Thăng Long Hà Nội Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|




